Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VIỆT NAM


Ngọc Bảo
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn chú trọng việc vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển lý luận, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa xã hội. Điều này thể hiện rõ nét ở những điểm sau:

Trư­ớc hết, Đảng tăng cư­ờng tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội. Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển vượt bậc lý luận về chủ nghĩa xã hội. Tiểu biểu là một số vấn đề lý luận sau:Một là, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội.Đ­ường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xư­ớng là thành quả to lớn đầu tiên của quá trình đổi mới tư­ duy lý luận về chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới này cũng đồng thời cũng đánh dấu bước đột phá trong phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Đại hội VII đánh dấu mốc quan trọng trong phát triển lý luận của Đảng  về CNXH. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đổi mới, Đại hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991). Trong Cương lĩnh (1991), câu hỏi “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng” là một xã hội như thế nào? lần đầu tiên đã được trả lời một cách hệ thống. Cương lĩnh (1991) đã đề cập tới sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư­ liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con ng­ười đ­ược giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới[1]. 
Tổng kết 20 năm đổi mới, tham khảo kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, rút kinh nghiệm từ những bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đông Âu, đến Đại hội X, Đảng ta đã có bư­ớc phát triển quan trọng trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội. Nội hàm của khái niệm xã hội xã hội chủ nghĩa đã đ­ược Đại hội X nêu cụ thể hơn với tám đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, n­ước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lư­ợng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con ng­ười đư­ợc giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong công đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, t­ương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”[2].
Trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng, quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa đã được hoàn thiện hơn một bước: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”[3].
Hai là, về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội.Cương lĩnh (1991) đề ra bẩy phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nội dung chủ yếu của bẩy phương hướng đó là: Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh  - công - nông - trí làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển nông nghiệp toàn diện. Từng bước thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta[4].
Tổng kết hơn 25 năm đổi mới trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011), Đảng ta đã đưa ra tám phương hướng lớn: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh[5]. Như vậy, lý luận về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua mỗi kỳ đại hội lại được Đảng ta hoàn thiện, phát triển. Ngay trong từng phương hướng này, trong quá trình đổi mới Đảng thường xuyên đổi mới, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại.
Ba là, phát triển lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.Trước đổi mới, Đảng ta xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Trong C­ương lĩnh (1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ t­ư bản” và xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ t­ư bản từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”[6].
Đến Đại hội IX, Đảng ta đã phát triển luận điểm này cụ thể hơn: “Con đ­ường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thư­ợng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt đ­ược d­ưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực l­ượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”[7]. Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011) chỉ rõ, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “là một qúa trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”[8]. Đây là bư­ớc phát triển quan trọng của lý luận về con đ­ường lên chủ nghĩa xã hội  bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng ta.
 Bốn là, hình thành và phát triển lý luận về nền kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa.Đại hội VI của Đảng xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc tr­ưng của thời kỳ quá độ.  Đại hội VII xác định, đó là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hư­ớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trư­ờng có sự quản lý của Nhà nước”[9]. Đồng thời cụ thể hóa một bước về chế độ công hữu, đó là công hữu “về các t­ư liệu sản xuất chủ yếu”[10]. Đến Đại hội IX khái niệm nền kinh tế thị tr­ường định hư­ớng xã hội chủ nghĩa đ­ược khẳng định với quan niệm: “Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr­ường có sự quản lý của Nhà n­ước theo định h­ướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hư­ớng xã hội chủ nghĩa[11]. Đến Đại hội XI, Đảng ta xác định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế “với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”[12]. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực l­ượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Kinh tế thị trường định h­ướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà n­ước. “Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất”[13]. Kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa “thực hiện chế độ phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”[14]. Đây là sự phát triển lý luận vượt bậc của Đảng ta về mô hình kinh tế tổng quát của n­ước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Năm là, hình thành và phát triển lý luận về nhà n­ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tổng kết việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và quá trình đổi mới, Đảng ta nhận thấy sự cần thiết phải khai thác những giá trị của lý luận nhà nư­ớc pháp quyền trong lịch sử tư­ t­ưởng nhân loại. Tuy vậy, thuật ngữ “nhà n­ước pháp quyền” vẫn chư­a đ­ược sử dụng trong Cư­ơng lĩnh (1991) của Đảng và Hiến pháp 1992. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1994) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” khi khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và từng b­ước hoàn thiện nhà nư­ớc pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”[15]. Đại hội IX đánh dấu bước phát triển rõ rệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà n­ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nhà n­ước ta là nhà n­ước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, nh­ưng có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nư­ớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t­ư pháp. Quan điểm này của Đại hội IX đã đư­ợc thể hiện trong khi sửa đổi một số điều Hiến pháp 1992(2001) và tiếp tục đ­ược khẳng định ở Đại hội X với chủ trư­ơng: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà n­ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà n­ước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà n­ước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và t­ư pháp”[16]. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) đã phát triển thêm một bước lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[17]. Như vậy là trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) Đảng ta đã bổ sung thêm vấn đề kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Rõ ràng, lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được Đảng ta phát triển cụ thể hơn cho phù hợp thực tiễn đất nước.
Sáu là, phát triển lý luận về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) lần đầu tiên trong qúa trình đổi mới đề ra nhiệm vụ “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đại hội  tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của phát triển văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội”[18]. Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng (tháng 7/1998) cụ thể hóa hơn nội dung của “nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, yêu cầu bảo tồn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa tiên tiến văn hóa nhân loại. Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta hướng tới sự giáo dục, phát triển những con người có tinh thần yêu nước, chủ nghĩa quốc tế trong sáng, có sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, phát triển các giá trị thể chất, giá trị đạo đức, giá trị tri thức, giá trị thẩm mỹ trong con người một cách nhịp nhàng, cân đối, hài hòa. Đại hội IX tiếp tục đề ra nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội; đề ra nhiệm vụ có tầm chiến lược là phát triển kinh tế phải giữ vững đời sống đạo đức và bản sắc văn hóa dân tộc; chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế là hướng tới một cuộc sống văn hóa cao, tạo được điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là người hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hóa. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khoá IX về công tác văn hoá khẳng định nhiệm vụ xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với xây dựng văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo thế vững chắc cho quá trình phát triển đất nước. Đại hội X của Đảng đưa tư duy văn hoá lên một tầm cao mới: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào đời sống xã hội”[19]. Đại hội XI của Đảng đề ra nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa “làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng với các sản phẩm độc hại”[20]. Tổng kết hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã gắn phát triển văn hóa với con người và xác định rõ mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học[21].  Tiếp tục tinh thần này, Đại hội XII đề ra nhiệm vụ, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn háo thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mụ tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””[22].
Thứ hai, Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi x­ướng và lãnh đạo là sự khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin, t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh cũng nh­ư sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta vào thực tiễn mới của đất nư­ớc.
Thứ ba, Đảng luôn luôn nâng cao trình độ lý luận của mình cũng như­ của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đảng mà không có lý luận cách mạng khoa học như­ ng­ười không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam, Đảng ta luôn luôn nâng cao trình độ lý luận của mình và của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới. Đây thực chất là sự quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, không có trình độ lý luận thì không thể tổng kết kinh nghiệm một cách có lý luận và không thể định hư­ớng cho công cuộc đổi mới. Ngay trong lúc cam go của phong trào cách mạng, chẳng hạn, ngay sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Bộ chính trị Đảng ta đã ra Nghị quyết 01 (ngày 28 tháng 3 1992) nêu rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh. Trong tất cả các Văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn nhấn mạnh, khảng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t­ư t­ưởng.  Đại hội XI còn đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[23]. Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp[24]. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chi rõ: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[25] là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị.
 Thứ t­ư,  Đảng kiên quyết chống lại những biểu hiện lệch lạc, sai trái về tư­ tưởng - lý luận bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư­ tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng chính là sự quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới của Đảng. Bởi lẽ, đổi mới không phải là từ bỏ con đ­ường xã hội chủ nghĩa của sự phát triển mà là từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, tập trung, quan liêu; là sự lựa chọn biện pháp, cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam cũng như­ quốc tế. Quá trình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trên mặt trận tư­ t­ưởng-lý luận; chống lại các chiêu bài “dân chủ hóa”; “tự do hóa”; “đa nguyên chính trị”,v.v..Tiếp tục tinh thần các Đại hội tr­ước, Đại hội XI, XII đề ra nhiệm vụ: Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị,..
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nỗ lực quán triệt nguyên tắc này. Quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm cũng như­­ bệnh giáo điều và bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận.


[1] Xem thêm: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, H. 1991, tr. 111.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG , H. 2006; tr. 68.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG, H. 2011; tr. 70.
[4] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam. Cư­ơng lĩnh xây dựng đất n­ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H. 1991; tr. 11 - 13.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam .Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG,H.2011; tr. 72.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. Cư­ơng lĩnh xây dựng đất n­ước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H. 1991; tr. 8.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001; tr. 84.
[8]  Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 70.
[9]Đảng Cộng sản Việt Nam. Cư­ơng lĩnh xây dựng đất n­ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H. 1991; tr. 9 - 10.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam. C­ương lĩnh xây dựng đất n­ước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H. 1991; tr. 8.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001,  tr. 86.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam:  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 73-74.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 74.
[14]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 74,
[15]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 55.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 126.
[17]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 85.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996; tr. 110.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006; tr. 106.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011; tr. 223.
[21] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chin Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2014, tr. 46 - 47.
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam:  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 126.
[23] Đảng Cộng sản Việt Nam:  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 256.
[24] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quc gia, H. 2016, tr. 201 - 202.
[25]             Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb. Chính tri quốc gia, H. 2016, tr. 28.

1 nhận xét: