Thứ Tư, 5 tháng 8, 2020


 (ĐCSVN) - Để văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc...hơn lúc nào hết Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người trong thời kỳ mới.

Là hoạt động lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản, cho nên ngay sau khi ra đời, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định thành lập Ban cổ động và tuyên truyền. Trong năm 1930, Ban cổ động và tuyên truyền Trung ương đã tiến hành triển khai nhiều hoạt động công tác tư tưởng rất có ý nghĩa như truyền bá sâu rộng “lời kêu gọi” của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thay mặt quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam, truyền bá sâu rộng những văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng như Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng cộng sản Việt Nam… Đáng chú ý, có một văn kiện, một ấn phẩm của Ban cổ động và tuyên truyền TW Đảng mà Đảng ta lưu giữ được, đó là tài liệu: “Ngày quốc tế đỏ mồng 1 tháng tám” do Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản ấn hành năm 1930. Đây là một hoạt động tư tưởng có ý nghĩa chính trị to lớn. Theo quyết định của Thường vụ Bộ Chính trị khoá VIII, ngày 1 tháng 8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành công tác tư tưởng của Đảng ta.
Vào thời điểm này, cả nước đang tưng bừng kỷ niệm 90 năm ngày truyền thống ngành tư tưởng, văn hoá, khoa giáo.
Lịch sử 90 năm qua của Đảng và của cách mạng Việt Nam mãi mãi còn ghi những đóng góp cực kỳ quan trọng của công tác tư tưởng, những cống hiến xuất sắc và những bước trưởng thành vượt bậc của những thế hệ cán bộ chiến sỹ trên mặt trận vẻ vang này. Lịch sử 90 năm hoạt động tư tưởng của Đảng ta đã ghi nhận những thành tựu rất quan trọng trong tư duy lý luận về văn hoá, con người, về vai trò của văn hoá con người, về kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền văn hoá và con người Việt Nam qua các thời kỳ của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tháng 2 năm 1943, sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta họp bàn các công tác khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, trên tinh thần nghị quyết của Hội nghị này, Tổng bí thư Trường Chinh đã soạn thảo Đề cương về văn hoá Việt Nam. Trên cơ sở phương pháp luận mác xít gắn chặt với phân tích sâu sắc thực tiễn, nhất là những xu hướng khác nhau trong lĩnh vực văn hoá Việt Nam, Đề cương đã trình bày những nội hàm chủ yếu của văn hoá bao gồm cả Tư tưởng, học thuật (khoa học), nghệ thuật (văn học nghệ thuật). Đề cương xác định văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá) mà ở đó người cộng sản phải hoạt động, phải lãnh đạo cách mạng chính trị và cách mạng văn hoá. Đề cương đã nêu bật những quan điểm tư tưởng chỉ đạo cách mạng văn hoá ở Việt Nam đó là phải hoàn thành cách mạng văn hoá mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội; Cách mạng văn hoá muốn hoàn thành phải do Đảng cộng sản lãnh đạo. Cách mạng văn hoá có thể hoàn thành khi nào cách mạng chính trị thành công. Nền văn hoá mà cuộc cách mạng văn hoá ở Việt Nam phải thực hiện là văn hoá xã hội chủ nghĩa. Về mối quan hệ giữa cách mạng văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, Đề cương khẳng định: Cách mạng văn hoá ở Việt Nam phải dựa vào cách mạng dân tộc giải phóng mới có điều kiện phát triển cách mạng dân tộc giải phóng Việt Nam, mới có thể đưa văn hoá Việt Nam tới trình độ dân chủ và có tính chất dân tộc hoàn toàn độc lập dựng nên một nền văn hoá mới; Phải tiến lên thực hiện cách mạng xã hội ở Việt Nam gây dựng một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề cương cũng làm rõ mục tiêu trước mắt của cuộc vận động văn hoá ở Việt Nam là xây dựng nền văn hoá mới và xác định nền văn hoá mới của Việt Nam có hai tính chất dân tộc và dân chủ mới. Đề cương xác định 3 nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hoá ở Việt Nam thời kỳ này là:
- Dân tộc hoá; chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hoá Việt Nam phát triển độc lập.
- Đại chúng hoá chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng.
- Khoa học hoá, chống lại tất cả những gì làm cho văn hoá trái khoa học, phản tiến bộ.
Tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng trong bối cảnh lịch sử đầu những năm 40 của thế kỷ XX, với việc trình bày hệ thống những quan niệm, phạm trù, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phương châm nguyên tắc chỉ đạo cuộc vận động văn hoá, Đề cương về văn hoá Việt Nam, thực sự là đỉnh cao trí tuệ, là sự nhận thức về tình hình, là những dự báo khoa học về mục tiêu tính chất, nguyên tắc, nhiệm vụ cuộc vận động văn hoá đương thời nhằm tạo nên sức mạnh tinh thần vĩ đại mà cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đang rất cần.
Đề cương về văn hoá Việt Nam đầy sức thuyết phục và tính chiến đấu, đã trở thành ngọn cờ tập hợp, cổ vũ, động viên giới trí thức, khoa học, văn nghệ sỹ Việt Nam đương thời vào cuộc chiến đấu quyết liệt cho sự toàn thắng của cách mạng dân tộc, cho sự nghiệp phá tan xiềng xích của văn hoá phát xít, thực dân, bảo vệ truyền thống văn hoá dân tộc, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam.
Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945, để thích hợp với tình hình mới, Hội văn hoá cứu quốc được mở rộng và đổi tên thành Hội văn hoá Việt Nam. Ngày 24-11-1946, Thực hiện mưu đồ cướp nước ta một lần nữa, Thực dân Pháp nổ sung tấn công Hải Phòng. Cùng ngày này, tại Thủ đô Hà Nội, khai mạc Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ nhất. Sự kiện quan trọng này diễn ra giữa lúc đất nước đang trong tình cảnh nước sôi, lửa bỏng đã khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặt vị trí của văn hoá quan trọng như thế nào trước sự tồn vong của đất nước. Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vị trí và nhiệm vụ của nền văn hoá mới đối với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Chúng ta cần biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc” ,“Số phận dân ta ở trong tay ta, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”, Phải “Đem văn hoá lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ” ([1])
Chưa đầy một năm sau Đại hội văn hoá lần thứ nhất quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947, đập tan cuộc tấn công với hai gọng kìm của hải lục, không quân Pháp, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng, Chính phủ, Bảo vệ an toàn căn cứ địa Việt Bắc.
Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, dù phải tiến hành biết bao công việc chuẩn bị cho giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, Tháng 7-1948, Đảng ta tổ chức Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ 2. Ngày 15/7/1947 trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Đại hội, Người viết: “Trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta, Văn hoá gánh một phần rất quan trọng. Từ ngày chính quyền dân chủ thành lập đến nay, các nhà văn hoá ta đã cố gắng và đã có thành tích. Song từ nay trở đi chúng ta cần phải xây dựng một nền văn hoá kháng chiến kiến quốc của toàn dân. Muốn đi đến kết quả đó, các nhà văn hoá ta cần tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào quần chúng. Nhiệm vụ của văn hoá chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hoá ta phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ mà còn để lưu truyền cả lịch sử oanh liệt kháng chiến, kiến quốc cho hậu thế”([2]). Như vậy trong thư gửi Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật những quan điểm cơ bản sau: Văn hoá giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc; mục tiêu là xây dựng một nền văn hoá kháng chiến kiến quốc của toàn dân; Nhiệm vụ của nền văn hoá kháng chiến kiến quốc là cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của dân và truyền bá thành tựu kháng chiến kiến quốc vĩ đại của Việt Nam ra thế giới. Lực lượng xây dựng nền văn hoá mới là toàn dân, trí thức và các nhà văn hoá giữ vai trò rất quan trọng. Do đó các nhà văn hoá cần được tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào thực tiễn kháng chiến, kiến quốc của toàn dân để có những tác phẩm văn hoá xứng đáng với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại.
Tại Đại hội này Tổng bí thư Trường Chinh đã đọc báo cáo quan trọng: “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”. Báo cáo này đã cụ thể hoá và phát triển hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, phương châm của Đề cương văn hoá 1943 của Đảng. Đây là lần đầu tiên Đảng ta chính thức trình bày một cách hệ thống, toàn diện các quan điểm về văn hoá theo lập trường mác xít. Báo cáo này, có giá trị như cương lĩnh văn hoá của Đảng trong thời kỳ kháng chiến, kiến quốc. Trong bản báo cáo này, hệ thống các quan điểm nguyên tắc, phương châm về văn hoá được trình bày trên 7 phần:
- Văn hoá và xã hội
- Lập trường văn hoá mác xít
- Văn hoá Việt Nam xưa và nay
- Tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân chủ mới Việt Nam
- Mặt trận văn hoá thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất
- Văn hoá Việt Nam trong mặt trận văn hoá dân chủ thế giới
- Mấy vấn đề cụ thể trong văn học.
Sức mạnh tinh thần của nền văn hoá kháng chiến, kiến quốc là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam đề giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện.
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cả nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thống nhất đất nước.
Năm 1960, Đại hội III của Đảng đã quyết định đường lối thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược này. Về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đại hội khẳng định: “Cách mạng XHCN ở miền Bắc không những là một cuộc cách mạng triệt để về kinh tế, chính trị mà còn là một cuộc cách mạng triệt để về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật:(3) Con người là vốn quý nhất của chủ nghĩa xã hội muốn có CNXH trước hết phải có con người XHCN, xây dựng con người mới XHCN là trọng trách hàng đầu, nhiệm vụ trực tiếp của cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật.
Mục tiêu của cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật là:
- Xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, trên cơ sở đó xây dựng đạo đức mới.
- Làm cho nhân dân đông đảo có trình độ văn hoá vững vàng, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật.
- Bảo vệ bồi dưỡng sức khoẻ con người là nghĩa vụ, mục tiêu cao quý của ngành y tế và thể dục thể thao.
- Văn nghệ giữ vị trí quan trọng trong cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật. Xây dựng một nền văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung XHCN phong phú. Văn nghệ phải góp phần tích cực vào công cuộc giáo dục tư tưởng, tình cảm và cải tạo con người theo chủ nghĩa xã hội; góp phần tích cực cổ vũ động viên nhân dân đem hết tinh thần và sức lực cho sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Tác phẩm văn nghệ phải trở thành vũ khí sắc bén trong việc xây dựng con người mới về tư tưởng và tình cảm.
- Báo chí, thông tin, truyền thanh và xuất bản phải trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
- Giáo dục con người mới phải thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất và phương châm lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội. (4)
- Đảng là lực lượng lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt trong cách mạng XHCN về tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật, cho nên cần phải: Có đầy đủ năng lực để lãnh đạo, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật; Ra sức đào tạo hàng loạt trí thức mới, xây dựng đội ngũ trí thức XHCN đông đảo.(5)
Dưới ánh sáng đường lối Đại hội III, nền văn hoá mang tính chất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa được xây dựng và phát triển sâu rộng, con người mới XHCN từng bước được hình thành và phát triển thông qua cuộc cách mạng tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực: Giáo dục chính trị, tư tưởng rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo, Phát triển mạnh mẽ văn học nghệ thuật và phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng. Báo chí cách mạng Việt Nam như báo in, báo ảnh, báo nói (phát thanh, truyền thanh) phát triển sâu rộng. Từ năm 1971 ra đời truyền hình Việt Nam, Báo chí Việt Nam thời kỳ này đã hoàn thành rất xuất sắc chức năng nhiệm vụ cao cả: Là người tuyên truyền; giáo dục tập thể, người hướng dẫn tổ chức, cổ vũ tập thể thực hiện đường lối nhiệm vụ chính trị, là người tuyên truyền, quảng bá, truyền bá các tác phẩm văn hoá, văn nghệ đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân cả hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam.
Ngành y tế và thể dục thể thao phát triển sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần quyết định trong việc bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho các thế hệ người Việt Nam.
Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, mà còn là thắng lợi của đường lối, chính sách văn hoá của Đảng ta. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào đông đảo quần chúng, thắng lợi của ý chí độc lập, tự do, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống được phát huy mạnh mẽ hơn bất cứ thời đại nào trong lịch sử dân tộc; thắng lợi của nhân phẩm Việt Nam, của những giá trị tinh thần cao quý Việt Nam.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong 45 năm qua tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hoá con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển rất sâu sắc và toàn diện.
Năm 1976, Đại hội IV xác định: “Nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung XHCN và tính chất dân tộc. Nền văn hoá được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng làm chủ tập thể XHCN. Nó vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của nền văn minh loài người, những thành tựu văn hoá, khoa học hiện đại, vừa là sự kết tinh và nâng lên tầm cao mới những gì đẹp nhất trong truyền thống bốn nghìn năm của tâm hồn Việt Nam, của văn hoá Việt Nam. Đó là truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường và mưu trí trong đấu tranh cho độc lập và tự do, là tình thương yêu giữa những người lao động, là đức tính cần cù sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời, đó là chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nền văn hoá có phong cách riêng của các dân tộc anhem trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.(6)Con người mới xã hội chủ nghĩa là con người Việt Nam mới mà những đặc trưng nổi bật là: Làm chủ tập thể, lao động, yêu nước XHCN và tinh thần quốc tế vô sản. Đó cũng là sự kết tinh và phát triển những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách Việt Nam hun đúc qua bốn nghìn năm lịch sử. Con người mới là con người có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp có trí thức và năng lực để làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân. Con người mới tất yếu phải là con người lao động, biết phát huy truyền thống lao động cần cù và đấu tranh anh dũng của dân tộc. Lao động với tinh thần tự nguyện, tự giác cao, với đầy đủ nhiệt tình tận tụy, sẵn sàng cống hiến mọi trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp xây dựng CNXH. Là con người có tinh thần cách mạng tiến công, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào, coi lao động là vinh dự, hạnh phúc là lẽ sống. Là con người lao động thật thà, kiên quyết đoạn tuyệt với thái độ chây lười, thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật lao động, nói dối, làm dối; là con người biết quý trọng và bảo vệ của công, lao động một cách có kỷ luật, có kỹ thuật, có sáng tạo và đạt năng suất cao; con người mới là con người có lòng yêu nước XHCN nồng nàn, kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Con người mới là con người có tình thương yêu sâu sắc đối với nhân dân lao động, biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động chiến đấu và xây dựng cuộc sống mới. Lấy việc xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người làm lý tưởng cao đẹp, làm hạnh phúc lớn của mình. Con người mới là con người biết xây dựng gia đình hạnh phúc, trên cơ sở của một xã hội hạnh phúc, có trách nhiệm đầy đủ và tình yêu chân thực trong quan hệ vợ chồng có trách nhiệm cao đối với việc xây dựng con cái thành những con người mới.”(7)
Đại hội Đảng lần thứ IV, đã xác định quan điểm chỉ đạo để xây dựng nền văn hoá mới và con người mới: “Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng tư tưởng, văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt. Quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng ấy cũng là quá trình hình thành từng bước chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn XHCN, nền văn hoá mới và con người mới XHCN”.(8) “Con người mới vừa là sản phẩm của xã hội mới vừa là chủ thể có ý thức xây dựng xã hội mới. Tiến hành ba cuộc cách mạng, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, là tạo ra những điều kiện xã hội hết sức quan trọng để có con người mới. Song, con người mới không thể hình thành một cách tự phát, mà phải trải qua quá trình xây dựng một cách tích cực và chủ động. Hơn nữa, hoàn cảnh nước ta đòi hỏi chúng ta và cho phép chúng ta xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi có sự phát triển cao của nền sản xuất lớn XHCN. Làm như thế thì ba cuộc cách mạng sẽ được đẩy mạnh hơn, chế độ làm chủ tập thể, nền sản xuất lớn XHCN và nền văn hoá mới sẽ được xây dựng một cách nhanh chóng hơn”.(9)
“Con người là sản phẩm của các quan hệ xã hội, phải bằng kết quả tổng hợp của cả ba cuộc cách mạng, phải thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành viên trong xã hội mới cải tạo được mình và dần dần trở thành con người mới. Việc tiến hành ba cuộc cách mạng xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng con người mới, phải nhằm đảm bảo những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh việc xây dựng con người mới. Phải xây dựng con người mới từ lúc mới lọt lòng và ở tất cả mọi lứa tuổi, trong tất cả các tổ chức quần chúng, các cơ sở kinh tế, văn hoá, các hoạt động xã hội ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình. Xây dựng con người mới là một công việc rất công phu, phải được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch trên quy mô xã hội và đối với từng người. Phải có nhiều biện pháp về các mặt: Tư tưởng và tổ chức, giáo dục và hành chính, chính trị và văn hoá, pháp chế và kinh tế… Trong các biện pháp ấy, tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hoá, áp dụng phổ biển phương pháp tự phê bình và phê bình, là biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt. Việc xây dựng con người mới phải được tiến hành thường xuyên liên tục, kiên trì, bền bỉ, đồng thời phải có những đợt vận động tập trung, phải qua nhiều phong trào, phong trào của từng đoàn thể, từng giới, từng lứa tuổi nói riêng nhất là phong trào lao động sản xuất”.(10)Dưới ánh sáng của đường lối của Đại hội IV và V, cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá đã được triển khai đồng thời với cuộc cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH và giành thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Những thành tự quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới và con người mới XHCN đã góp phần quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược.Tuy nhiên trong thời kỳ này, do Đảng ta phạm nhiều khuyết điểm, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối kinh tế nhất là trong bố trí cơ cấu kinh tế, cả cơ cấu các ngành kinh tế và cơ cấu sản xuất đầu tư; Những khuyết điểm sai lầm trong tiến hành cải tạo XHCN và củng cố quan hệ sản xuất mới, và duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp nhất là những sai lầm trong thực hiện chính sách giá, lương, tiền, cùng với những yếu kém trong công tác tư tưởng văn hoá cho nên từ đầu những năm 80, nền kinh tế nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đối với con đường đi lên CNXH bị giảm sút.
Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, theo định hướng XHCN. Ngày 28 tháng 11 năm 1987, triển khai thực hiện đường lối văn hoá của Đại hội VI, Bộ chính trị ra nghị quyết 05-NQ/TW về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới. Tại nghị quyết chuyên đề này, Đảng ta xác định: “Văn hoá là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người. Văn hoá Việt Nam kết tinh tâm hồn, trí tuệ tài năng và đạo lý làm người của nhân dân ta trong lịch sử hàng nghìn năm giữ nước và dựng nước. Hiện nay, văn hoá là bộ phận trọng yếu của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá là một động lực mạnh mẽ đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Văn hoá và văn học nghệ thuật có tác dụng to lớn trong việc góp phần thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng con người mới XHCN; có chức năng bồi dưỡng đạo đức tình cảm và năng lực thẩm mỹ cho con người, thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng tăng của nhân dân. Giai đoạn mới của cách mạng XHCN ở nước ta, đặc biệt là công cuộc đổi mới sâu sắc toàn diện hiện nay đòi hỏi văn hoá văn nghệ nước ta phải vươn lên đáp ứng tốt nhất yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra với duy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng, văn hóa văn nghệ nước ta ngày càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm …
Tinh thần chung của các chính sách biện pháp là phải bảo đảm những điều kiện để văn hóa văn nghệ làm tốt vai trò xã hội với chức năng cao cả của nó. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của Đảng là coi trọng con người, coi con người là động lực quan trọng nhất và là mục tiêu phục vụ và xây dựng cao nhất của mọi hoạt động kinh tế xã hội. Phải xem việc đầu tư cho sự nghiệp văn hóa để phục vụ con người, xây dựng con người mới XHCN.”(11)
Tổng kết thực tiễn 12 năm đổi mới tư duy, đổi mới cách làm để thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng con người – một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hóa trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Ngày 16 -7 -1998, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết quan trọng này được coi là cương lĩnh văn hóa của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tại nghị quyết này, Đảng ta xác định “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh trên thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nhận thức nội hàm của văn hóa với 9 lĩnh vực sau:
- Tư tưởng đạo đức và lối sống, mà cốt lõi của các giá trị văn hóa là hệ tư tưởng. Đây là lĩnh vực then chốt của văn hóa.
- Khoa học kỹ thuật
- Giáo dục đào tạo
- Văn hóa nghệ thuật
- Thông tin đại chúng
-  Giao lưu văn hóa với nước ngoài
- Di sản văn hóa (Di sản vật thể và phi vật thể)
- Văn hóa tôn giáo
- Thể chế văn hóa
Nghị quyết xác định phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là: Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự do tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội vào từng người,  từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH-HĐH, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh tiến bước vững chắc lên CNXH. Nghị quyết xác định 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản :
- Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội .
- Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hóa là một mặt trận, xây dựng, phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng, và sự kiên trì, thận trọng.
Qua thực tiễn 15 năm thực hiện nghị quyết TW5, tại nghị quyết 33- NQ/TW khóa XI,về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã bổ sung, phát triển hoàn thiện mục tiêu chung xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam là phát triển toàn diện, hướng tới Chân – Thiện –Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xác định 5 quan điểm chỉ đạo :
- Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
- Phát triển văn hóa vì sự  hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống đẹp với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
- Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Nghị quyết TW33 có một nhận định rất quan trọng: “15 năm thực hiện nghị quyết TW5, khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Nhưng thành tựu trên lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng với thành tựu trên các lĩnh vực khác, nhất là chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa và tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”.(12) Đáng chú ý là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi phức tạp hơn, Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng tập trung vào số Đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty. Nhiều tổ chức Đảng và Đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh ngăn chặn “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hoá”.(13)
Công tác tư tưởng có phần trách nhiệm đối với những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên. Trách nhiệm đó là, từ những hạn chế yếu kém trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức học tập, nghiên cứu quán triệt, hướng dẫn hành động thực hiện nghị quyết, hoạt động kiểm tra phát hiện nhân tố mới để cổ vũ, động viên, nhân rộng, chỉ đạo, hướng dẫn đấu tranh khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Cho nên như Nghị quyết 04-NQ/TW Khoá XI đã nhận định: “Nhiều cấp uỷ, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này, lãnh đạo chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hoá, thể chế hoá nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hoá chậm được đổi mới có lúc có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hoá chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hoá để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản các cấp”(14)
Ngày nay nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện và đồng bộ, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “vì dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Ngày nay trong điều kiện bùng nổ của cách mạng khoa học hiện đại; yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng. Do đó để trở thành giàu mạnh không chỉ phụ thuộc vào nhiều hay ít lao động vốn kỹ thuật công nghệ, tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là khả năng phát huy đến mức cao nhất tài năng sáng tạo của nguồn lực con người. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hoá. Và văn hoá có khả năng khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Để văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, hơn lúc nào hết Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người trong thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ tư tưởng văn hoá khoa giáo được nhận trọng trách là chiến sỹ tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ và khoa học, hơn lúc nào hết:
- Đội ngũ cán bộ tư tưởng phải đi đầu trong tiếp tục đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, đổi mới cách làm. Từng đồng chí trực tiếp đọc, nghiên cứu để thấu triệt nghị quyết Trung ương 33 – Khoá XI, biến nhận thức hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng phát triển nền văn hoá con người Việt Nam trong thời kỳ mới thành tư tưởng, tình cảm, thành trách nhiệm tự giác gương mẫu thực hiện của bản thân mình.
- Phải đổi mới cách làm công tác tuyên truyền giáo dục để thực sự nâng cao nhận thức trong Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người Việt Nam. Phải có chương trình tuyên truyền giáo dục cho từng đối tượng, rất coi trọng đối tượng là các cấp uỷ, các cấp chính quyền, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các lĩnh vực của văn hoá (tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, Báo chí xuất bản truyền thông, Di sản văn hoá, Giao lưu văn hoá, văn hoá tôn giáo, thể chế thiết chế văn hoá) và đội ngũ trí thức văn nghệ sỹ. Giao trách nhiệm tuyên tuyền giáo dục này cho từng binh chủng của công tác tư tưởng đó là: các cơ quan nghiên cứu lý luận, Hệ thống các trường chính trị, Hệ thống giáo dục quốc dân, Hệ thống báo chí tuyên truyền, Hệ thống tuyên truyền miệng.
- Hướng dẫn và kiểm tra các cấp các ngành các cơ quan đơn vị trong hệ thống chính trị việc bổ sung, hoàn thiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33 – Khoá XI.
- Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá con người Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra với tốc độ và qui mô chưa từng thấy, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, mặt trái của cơ chế thị trường, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ, thúc đẩy hình thành các yếu tố để tạo ra “cuộc cách mạng màu” ở Việt Nam. Để có thể vượt qua các khó khăn thách thức này và nhất là để khắc phục cho được nguyên nhân chủ quan của những yếu kém trên, Ban bí thư trung ương cần thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về xây dựng và phát triển nền văn hóa con người Việt Nam do đồng chí Uỷ viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm trưởng ban, Phó thủ tướng phụ trách văn xã làm phó trưởng ban, các thành viên ban chỉ đạo: Bộ trưởng Bộ văn hóa thể thao du lịch, Thứ trưởng Bộ thông tin, Thứ trưởng Bộ giáo dục, Thứ trưởng Bộ khoa học công nghệ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch liên hợp các hội Văn học nghệ thuật, Bí thư thường trực Trung ương đoàn, Phó Chủ tịch tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch hội nông dân Việt Nam, Phó Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch hiệp hội văn hóa doanh nghiệp Việt Nam. Phó trưởng ban thường trực Ban tuyên giáo TW làm Ủy viên thường trực. Ban chỉ đạo TW được Ban Bí thư ủy quyền phối hợp chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết Trung ương: “Xây dựng và phát hiện nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Ban chỉ đạo TW tập trung chỉ đạo:
+ Hoàn thành thể chế hóa nghị quyết TW33 thành luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy các cơ chế chính sách. Các chương trình mục tiêu quan trọng như: Chương trình phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với hoàn thiện thị trường văn hóa, chương trình xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh: môi trường văn hóa tại các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện…, chương trình hội nhập quốc tế về văn hóa và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chương trình bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Chương trình phát hiện, tôn vinh, bồi dưỡng các tài năng văn hóa, văn học nghệ thuật. Chương trình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa; Chương trình xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa ở các đơn vị xã, phường, thị trấn, đơn vị quân đội, công an, bệnh viện, trường học; Chương trình xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể quần chúng để văn hóa thực sự là nhân tố quan trọng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.
+ Chỉ đạo tập trung nghiên cứu xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam hiện đại để làm cơ sở định hướng cho hệ thống chính trị và các tổ chức cơ quan đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa thực hiện trong tiến trình đào tạo con người từ khi lọt lòng.


(1)Trường Chinh – Nhà văn hoá lớn của Việt Nam. Báo Nam Định, ngày 21/11/2019.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Tập 5 – Trang 677.
(3),(4),(5)Văn kiện Đại hội Đảng toàn tập – Tập 21 – Trang 549, 550, 556, 557.
(6) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Tập 37 – Trang 500
(7) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Tập 37 – Trang 501-503.
(8) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Tập 37 – Trang 491.
(9) Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Tập 37 – Trang 501.
(10). Văn kiện Đảng toàn tập - Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Tập 37 – Trang 503-504.
(11). Văn kiện Đảng toàn tập – Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2011 – Tập 48 - Trang 842-846
(12). Nghị quyết số 33- NQ/TW Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW Đảng ( Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
(13). Nghị quyết số 04/NQ-TW Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng (Khoá XII) về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng…
(14). Nghị quyết số 33/TQ-TW Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành TW Đảng (Khoá XI) về xây dựng, phát triển văn hoá con người…
PGS.TS Đào Duy Quát, Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương


2 nhận xét: