Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Cảnh giác trước mưu đồ lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để kích động, gây rối, phá hoại



Cùng với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tạo sự chống phá đa diện nhằm vào Đảng và chế độ ta. Mục đích của việc lợi dụng vấn đề này là để kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hãy cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mưu đồ đen tối đó!
Việt Nam là nước đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, phát triển của mỗi tôn giáo có khác nhau, nhưng nhìn chung các tôn giáo luôn có tinh thần bao dung, đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc, tôn giáo Việt Nam. Cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, hòa chung cùng niềm vui và nỗi đau của dân tộc trong những thời khắc lịch sử, góp phần phát triển và làm rạng rỡ nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được ghi nhận và tôn vinh.
Hàng vạn chư tôn, tăng, ni, phật tử, đạo hữu tham dự lễ hội Quán Thế Âm tại thành phố Đà Nẵng, ngày 16-3-2017. (Ảnh: baodanang.vn)
Nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo và các tín đồ tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm, chính sách đúng đắn về vấn đề này và khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; trên cơ sở đó, thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hệ thống giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật. Chính sách tôn giáo đúng đắn đó đã có tác dụng cổ vũ, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo phấn khởi, chung sức, chung lòng cùng cộng đồng, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
Thế nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, thù địch và dã tâm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đang điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước ta thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” với mọi thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Trong đó, lợi dụng vấn đề “tôn giáo” được chúng sử dụng như một vũ khí đặc biệt quan trọng để xuyên tạc, vu khống, kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội, tiến tới chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phương thức hoạt động chủ yếu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng chống đối, hậu thuẫn về vật chất, tinh thần đối với những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong các tôn giáo; thúc đẩy thành lập các hội đoàn trái pháp luật trong xứ đạo để thách thức, chống phá chính quyền. Cùng với đó, chúng tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, gây hoang mang dư luận về sự đối lập hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản hoặc vu cáo, xuyên tạc “Cộng sản diệt đạo”, “Nhà nước đàn áp tôn giáo”; từ đó, kích động mâu thuẫn, tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình, gây rối trật tự, mất ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn, v.v.
Đáng chú ý, thời gian qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, … các phần tử cực đoan trong tôn giáo nói chung, công giáo nói riêng, ra sức “bới lông, tìm vết”, tổ chức các hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với giáo lý tôn giáo. Mới đây, trên trang mạng tiếng Việt của một hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên bài viết “Ô nhiễm môi trường đe dọa ổn định ở Việt Nam”, xuyên tạc rằng: “… hầu hết người Việt Nam bất bình với Đảng Cộng sản đã cho phép một công ty nước ngoài xả độc ra biển. Nhiều người dân miền Trung đã tham gia các cuộc biểu tình đòi Formosa và Chính phủ bồi thường quyền lợi thích đáng. Kể cả nhiều người không bị ảnh hưởng vì thảm họa này cũng bày tỏ sự bất bình. Điều này là đáng sợ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam”(!), v.v. Thế là ngay lập tức, những kẻ bất đồng chính kiến, những “nhà đấu tranh dân chủ”, một số tổ chức phản động nhân cơ hội này “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” nhao nhao hô hào, cổ súy “thúc giục mọi người chung tay để đấu tranh với vấn đề Formosa”. Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và được sự tiếp tay của các thế lực phản động bên ngoài, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, tấn công người thi hành công vụ, đập phá phương tiện, cản trở hoạt động giao thông, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi chức trách theo quyền hạn thì chúng vu cáo cơ quan chức năng “đàn áp, bắt giữ và đánh đập” người tham gia biểu tình; tán phát trên mạng xã hội “Thư ngỏ”, “Bản lên tiếng”, “Kháng thư”,… với nội dung vu cáo chính quyền bao che cho Formosa, “đàn áp, đánh đập” những người đi khiếu kiện đòi quyền lợi, kêu gọi người dân khởi kiện Formosa ra Tòa án hình sự quốc tế, “cùng đứng lên đuổi Formosa khỏi Việt Nam”, v.v.
Với mưu đồ chống phá đến cùng, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo đẩy mạnh tuyên truyền, kích động “con chiên ngoan đạo” rằng: “Không ngừng duy trì nhiệt huyết và tính liên tục của các cuộc tuần hành, tụ tập đông người phản đối chính quyền và yêu cầu Formosa ra khỏi Việt Nam vào chủ nhật hằng tuần. Các cuộc tuần hành cần tập trung vào một số địa điểm nhạy cảm, đông người, như: nhà riêng các lãnh đạo địa phương, công sở, khu công nghiệp, … tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Lấy vụ việc Formosa làm điểm nhấn để tăng cường khoét sâu mâu thuẫn giữa giáo dân nói riêng và nhân dân nói chung với chính quyền địa phương” và ủng hộ cái gọi là “cuộc chiến” hiện tại của giáo dân. Không những thế, họ còn thay đổi phương thức đấu tranh sao cho bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và sinh hoạt, hoạt động sản xuất của giáo dân. Mưu đồ của họ là “chia giáo xứ thành nhiều bộ phận theo các họ đạo, thay nhau đấu tranh vào các ngày nghỉ, ngày chính quyền tổ chức cấp phát tiền đền bù, khi cần thiết mới huy động toàn xứ đạo tham gia; thay đổi quy luật, cách thức đấu tranh, làm tốt công tác chuẩn bị nhưng không để lộ bí mật, không để chính quyền và số người “bán Chúa cầu vinh” nắm thông tin, tổ chức ngăn chặn, v,v.
Tiếp tay cho hành động đó, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế/BNG (USCIRF) đã công bố tài liệu tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, với những đánh giá thiếu khách quan khi cho rằng: Việt Nam chưa thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Tình trạng xâm phạm tự do tôn giáo vẫn diễn ra, nhiều nơi chính quyền địa phương và lực lượng an ninh thường xuyên sách nhiễu, phân biệt các tổ chức tôn giáo, bắt giữ những người “đấu tranh” cho tự do tín ngưỡng tôn giáo; đề nghị Chính phủ Mỹ cần sớm đưa Việt Nam trở lại danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Cùng với đó, các thành viên của cái gọi là “Đảng Việt Tân”, trú tại Mỹ thông qua các trang mạng tuyên truyền, xuyên tạc rằng: đến thời điểm hiện tại (ngày 16-3-2017), Chính phủ Việt Nam “mới đền bù thiệt hại được một phần cho ngư dân, số tiền còn lại các cơ quan chức năng của Việt Nam gửi ngân hàng để chia chác kiếm lợi”; đồng thời, yêu cầu Việt Nam “đóng cửa” Công ty Formosa!,v.v. Thật nực cười! Chẳng hiểu họ lấy thông tin từ đâu, với tư cách gì mà có những nhận định và đòi hỏi hồ đồ như vậy. Phải chăng đây là hành động “vì dân, vì nước” của các nhà dân chủ, tổ chức lưu vong? Không, hoàn toàn không! Thực chất đó là những luận điệu lạc lõng, hại dân, hại nước, trò “lập lờ đánh lận con đen”, “đổ thêm dầu vào lửa” hòng đánh lừa dư luận, can thiệp vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhưng không che mắt được ai. Hành động của họ không vì cuộc sống của đồng bào ngư dân miền Trung mà chỉ là nhằm lợi dụng “vấn đề formosa” để kích động chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta!
Chúng ta đều biết, đã gần một năm trôi qua, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra là một thảm họa lớn nhất xảy ra tại Việt Nam từ trước đến nay. Để khắc phục hậu quả đó, Đảng, Chính phủ, các ban ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt bằng các giải pháp đồng bộ nhằm sớm ổn định cuộc sống và lao động của bà con ngư dân các tỉnh miền Trung. Với nỗ lực đó, đại diện Công ty Formosa đã phải công khai nhận trách nhiệm và hứa sẽ không tái phạm; đồng thời, cam kết bồi thường 500 triệu USD (tương đương hơn 11.000 tỷ đồng Việt Nam) để khắc phục sự cố nghiêm trọng này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về mức bồi thường thiệt hại cho bà con ngư dân tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế bị thiệt hại vì sự cố môi trường biển, theo 7 nhóm đối tượng, gồm: Khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Các địa phương trong diện được đền bù đã thành lập ban quản lý, điều hành cấp phát cho bà con theo các nhóm đối tượng; Quy chế Dân chủ ở cơ sở được phát huy; những nơi làm chưa đúng được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, hầu hết những người bị thiệt hại đã được đền bù và đều hài lòng, phấn khởi trước sự quan tâm hỗ trợ thỏa đáng của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, tạo niềm tin vững chắc để họ tiếp tục yên tâm bám biển, vươn khơi đánh bắt hải sản, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế là vậy, nhưng các thế lực phản động, phần tử cực đoan trong tôn giáo không những không thừa nhận, mà còn cố tình lờ đi như người không có mắt, hơn thế còn ra sức xuyên tạc, bịa đặt, “bóp méo sự thật”, “đổi trắng thay đen” về những gì đang diễn ra trên mảnh đất này. Thật nực cười, trớ trêu!
Sự chống phá quyết liệt của những kẻ cực đoan trong tôn giáo cùng sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực thù địch bên ngoài nguy hiểm ở chỗ làm cho một số người “nhẹ dạ cả tin” trong bà con giáo dân lầm tưởng rằng việc làm đó là đi theo “tiếng gọi của Chúa” mang phúc lộc cho các con chiên ngoan đạo để rồi nghe lời xúi giục kích động của họ tham gia tụ tập, biểu tình, gây rối vi phạm pháp luật.
Chúng ta hãy cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình đội lốt tôn giáo trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đó việc cần làm nhất thiết phải làm của tất cả những người Việt Nam yêu nước./.
TRÁNG A LÂM
 (Trích nguồn Tạp chí Quốc phòng toàn dân online 







Chiêu bài mới của “diễn biến hòa bình”





Kêu gọi “Việt Nam không cần chống diễn biến hòa bình nữa”(!) đang là chiêu bài mới của các thế lực chống cộng, nhưng cũng mê hoặc được không ít người. Chúng ta cần nhận diện rõ chiêu bài này, để không mắc mưu.
Thủ đoạn mới, mục đích cũ
Từ chỗ phủ nhận sự hiện diện của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, coi đó là “con ngáo ộp” mà Đảng Cộng sản Việt Nam “hù dọa” nhân dân; gần đây, những người thiếu thiện chí với sự lãnh đạo của Đảng lại khẳng định: “Việt Nam không cần chống diễn biến hòa bình nữa”(!). Thế là từ phủ nhận, nay lại thừa nhận, nhưng để dễ bề lừa gạt dư luận và làm cho mọi người mất cảnh giác, họ nói rằng: “Chiến lược này đã kết thúc sứ mệnh, do các “cựu thù” đã thành đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược của Việt Nam”(!).
Luận điểm này được tuyên truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông phương Tây, nhất là sau các sự kiện: Việt Nam và Mỹ tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện (tháng 7-2013) trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma lần lượt đến Hoa Kỳ và Việt Nam trong các chuyến thăm chính thức (tháng 7-2015 và tháng 5-2016). Thêm nữa, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng…” cũng được người ta che giấu mối liên hệ giữa “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để xuyên tạc rằng: “Hiện nay, Đảng không còn yêu cầu chống diễn biến hòa bình nữa, mà tập trung vào chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên”(!).
Có thể khẳng định ngay rằng, sự thay đổi thái độ nói trên chỉ là thủ đoạn mới, nhằm thực thi chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới ở Việt Nam có hiệu quả hơn. Thủ đoạn đó rất tinh vi và vô cùng nguy hiểm, bởi nó sẽ tạo nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, nhất là những người không biết tường tận về bản chất, thủ đoạn của chiến lược này. Trên cơ sở đó, họ có thể đạt được mục đích cuối cùng là thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, như chính cựu Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn tuyên bố trong cuốn sách “1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”. Vì thế, trong khi “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”1, chúng ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác, kiên trì thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, kiên quyết làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn
Cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình” vẫn còn tiếp tục, bởi các lý do: Trước hết, do mục đích cuối cùng và xuyên suốt mà chiến lược “Diễn biến hòa bình” đặt ra là xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội vẫn còn ở phía trước. Nhìn lại quá trình hình thành và hoàn chỉnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” có thể thấy: từ khi chỉ là ý tưởng (cuối những năm 40 của thế kỷ XX), đến khi trở thành chiến lược hoàn chỉnh (cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX), “Diễn biến hòa bình” bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, nhằm mục đích xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên mọi phương diện; dù cho đó chỉ là một hệ tư tưởng, một xu thế phát triển, một phong trào hiện thực, hay là một hình thái kinh tế - xã hội, một hệ thống giá trị đã tồn tại, v.v. Do vậy, một khi chủ nghĩa xã hội còn, dưới hình thức nào, thì chiến lược “Diễn biến hòa bình” chưa vãn hồi sứ mệnh như người ta lòe bịp. Theo đó, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục diễn ra, như một tất yếu. Và đương nhiên Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Thứ hai, đây là cuộc chiến khó phân biệt chiến tuyến, nhưng diễn ra một cách dai dẳng, rất quyết liệt, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Diễn biến hòa bình” là sự kế tục thứ chính trị của các thế lực chống cộng, nhưng bằng thủ đoạn phi vũ trang; phản ánh tính chất phức tạp, lâu dài của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản phản động. Sử dụng những cuộc tiến công “ngầm”, “mềm” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thông qua các chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”… kiểu Mỹ, “diễn biến hòa bình” hướng mục tiêu vào xây dựng các nhân tố đối lập với Đảng Cộng sản và các giá trị của chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó mà thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước này. Phương châm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” là kết hợp phá từ trong nội bộ với hỗ trợ từ bên ngoài; kết hợp tạo sự chuyển hóa từ bên trong và bên trên với bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ, để xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế, các thủ đoạn của “diễn biến hòa bình” rất tinh vi, khó thấy, khó phân tuyến, diễn ra dai dẳng, qua nhiều thế hệ. Chính cựu Tổng thống Mỹ R. Ních -xơn, trong cuốn sách của mình, đã khẳng định: “Về lâu dài, chúng ta có thể khuyến khích “diễn biến hòa bình” trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, song nhiệm vụ đó không thể hoàn thành trong mấy chục năm mà phải làm trong nhiều thế hệ”. Để triển khai tư tưởng chiến lược đó ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động nuôi hy vọng dùng “cộng sản con lật cộng sản cha”. Vì thế, đây là cuộc chiến không hồi kết, một khi Việt Nam vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, Việt Nam vẫn đang là một trọng điểm chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Là quốc gia đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, với vị trí địa chiến lược ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam luôn được các thế lực thù địch coi là một trọng điểm chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. H. Kít-xinh-giơ, nguyên Ngoại trưởng, Cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ, từng nói: “Những người cộng sản Việt Nam đã thắng trong chiến tranh, nhưng họ sẽ thua trong hòa bình. Trước đây, cộng sản dùng súng để đuổi người Mỹ ra khỏi Sài Gòn, ngày nay người Mỹ sẽ dùng đô-la để đuổi cộng sản ra khỏi Sài Gòn”2. Ngay trong Tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (11-7-1995), Tổng thống Mỹ B. Clin-tơn cũng không giấu ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam, khi nói: “Tôi tin rằng việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam, như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây”. Còn phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, nhân chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma không quên “gợi ý” Việt Nam thực hiện các vấn đề về nhân quyền, như: “tự do ngôn luận”, “tự do lập hội”, “tự do biểu tình”,... theo chuẩn mực Mỹ - những thứ mà các thế lực thù địch vẫn dùng trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam.
Cũng phải thấy rằng, sự phát triển các quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với nhiều nước (không phân biệt chế độ chính trị) và nhiều tổ chức quốc tế đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của Việt Nam những năm qua. Tuy nhiên, với tính chất hai mặt của chính quyền một số nước phương Tây, nên trong thực tế vẫn tồn tại những âm mưu, hoạt động lợi dụng sự phát triển các quan hệ hợp tác để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam.
Nổi bật là sự hỗ trợ (với mức độ, hình thức khác nhau) của chính quyền một số nước đối với những cá nhân, tổ chức thù địch với Việt Nam3, để gia tăng các hoạt động chống phá. Họ vẫn lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do tôn giáo”,… theo chuẩn mực Mỹ để vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; lấy đó làm động lực hỗ trợ về mặt chính trị, tinh thần cho các thế lực chống phá ở trong nước. Bất chấp sự phát triển các quan hệ hợp tác ở tầm “đối tác toàn diện” hay “đối tác chiến lược”, số người cực đoan tại Mỹ, Liên minh châu Âu (EU); các cơ quan, tổ chức, như: Bộ Ngoại giao, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện châu Âu, Tổ chức theo dõi Nhân quyền (HRW),… vẫn tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành các nghị quyết xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tung ra các báo cáo nhân quyền toàn cầu, gần đây nhất là tháng 4-2016, trong đó tiếp tục xuyên tạc tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Một số nghị sĩ trong Hạ viện Mỹ, như: A. Lâu-en-tan, L. San-chét, F. Vôn-phơ, T. X-mít, E. Roi-se,… vẫn thường xuyên đưa ra ý kiến, hay tạo điều kiện để người khác vu khống, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam; hoặc thúc đẩy thông qua các Dự luật nhân quyền cho Việt Nam; vận động để Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo (CPC)”. Ngày 08-12-2016, tại hội thảo nhân Ngày Quốc tế nhân quyền, do Ủy ban nhân quyền Tom Lantos (thuộc Hạ viện Mỹ) tổ chức, nghị sĩ A. Lâu-en-tan đã xuyên tạc mục đích Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; xem đó là sự “gia tăng đàn áp tôn giáo”, “siết chặt quyền tự do tôn giáo của hàng triệu người dân”, rồi lặp lại luận điệu “nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ hàng trăm tù nhân lương tâm, v.v.”(!). Tổ chức RSF có trụ sở chính ở Pháp, hằng năm cũng tự cho mình quyền phán xét tình hình tự do báo chí ở các nước. Trong bản Phúc trình năm 2016 (công bố ngày 20-4-2016), RSF tiếp tục xuyên tạc tình hình ở Việt Nam, khi cho rằng: “các blogger và nhà báo công dân, những nguồn thông tin độc lập tại Việt Nam, là đối tượng của một chủ trương đàn áp rất khắc nghiệt”(!). Đầu năm nay, Freedom House có trụ sở tại Mỹ cũng tiếp tục xếp Việt Nam vào danh sách “Các quốc gia không có tự do”(!) trong bản Báo cáo xếp hạng tự do toàn cầu năm 2017.
Được sự hậu thuẫn, móc nối của các thế lực thù địch ở nước ngoài, một số phần tử phản động, cơ hội, thoái hóa, biến chất ở trong nước cũng không ngừng các hoạt động chống phá. Chúng ra sức phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứng minh “sự du nhập chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam là sai lầm”; tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin; cố tình cho rằng “con đường Bác Hồ chọn không phải là chủ nghĩa xã hội”(!). Để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng phủ nhận những thành tựu của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, kêu gọi thực hiện “chế độ đa đảng”. Chúng đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử, nhằm đổi trắng thay đen, gây lẫn lộn giữa người có công và kẻ có tội, giữa người cách mạng và kẻ phản cách mạng. Lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, như: chủ quyền trên Biển Đông, sự cố môi trường 04 tỉnh miền Trung do Công ty Formosa gây ra, những vấn đề liên quan đến sinh hoạt tôn giáo, dân tộc, dân chủ ở một vài địa phương, chúng kích động nhân dân biểu tình, gây rối, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước, tạo dựng các “nguyên cớ” để khi có thời cơ thì tiến hành bạo loạn, cướp chính quyền. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chúng ra sức hô hào “phi chính trị” hóa quân đội và công an; đòi các lực lượng này chỉ bảo vệ đất nước và nhân dân, chứ không bảo vệ Đảng (!).
Tất cả thực tiễn đó cho thấy: các thế lực thù địch không từ bỏ thực hiện “diễn biến hòa bình” với nước ta; và cuộc chiến, theo đó, vẫn tiếp diễn.
Giải pháp giành chiến thắng
Chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong bối cảnh mới, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của “diễn biến hòa bình” là rất thâm độc, nhưng có đạt được hay không lại phụ thuộc vào chính chúng ta. V.I. Lê-nin từng căn dặn: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”4. Vì thế, để giành thắng lợi trong cuộc chiến này, chúng ta cần xây dựng nội bộ mình thật sự vững mạnh. Theo đó, phải phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu và phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đề ra. Trong khi phấn đấu thực hiện tốt 06 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII xác định, cần coi trọng tiến hành một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về bản chất, mục đích, các thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình”; về mối quan hệ chặt chẽ giữa “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để mọi người chủ động rèn luyện, nâng cao cảnh giác, không mơ hồ, mắc mưu những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Hai là, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây là giải pháp có tính quyết định để vô hiệu hóa sự tác động của “diễn biến hòa bình”; bởi mục tiêu hướng tới của chiến lược này là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, qua đó hòng dùng chính bàn tay chúng ta để xóa bỏ chế độ chính trị của chúng ta.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa, với chủ động tiến công từ trong “trứng nước”, từ nơi xuất phát các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; không để chúng nhen nhóm gây dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức đối lập. Để thực hiện được, phải dựa vào “tai, mắt” của nhân dân. Muốn vậy, cấp ủy và chính quyền các cấp phải hết sức chăm lo các vấn đề an sinh xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kịp thời giải tỏa những bức xúc của dân trong quan hệ với chính quyền. Trên cơ sở đó để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, vô hiệu hóa mọi mưu đồ, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Tiến hành đồng bộ các giải pháp xây dựng và bảo vệ đất nước, kết hợp “xây” và “chống” trên mọi lĩnh vực; lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh là cốt lõi, phải là liệu pháp căn bản để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình”.

 (Trích nguồn Tạp chí Quốc phòng toàn dân online 28/4/2017














Bác bỏ ý kiến Ngày nay trên thế giới và ở Việt Nam không thể có chủ nghĩa xã hội



(LLCT) - Khi nói về xã hội tương lai, Mác tránh đi vào sự mô tả chi tiết mà chỉ khẳng định rõ: CNCS nảy sinh không phải từ hư vô mà từ CNTB. CNTB tiêu biến cũng không phải vào hư vô mà để lại “những dấu vết” trong CNCS. Do đó, giữa chúng tất yếu có một “thời kỳ quá độ chính trị” - thời kỳ quá độ (TKQĐ) như lâu nay thường gọi tắt, với nhà nước là “nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”
1. Phải chăng chưa có và không thể có chủ nghĩa xã hội?
Gần đây có ý kiến cho rằng: theo Mác, công cụ lao động (CCLĐ) là cái quan trọng nhất, quy định quan hệ sản xuất (QHSX), phương thức sản xuất (PTSX), hình thái kinh tế - xã hội (KTXH). Cây gậy và chiếc cung tên sinh ra xã hội cộng sản nguyên thủy, cái cuốc sinh ra xã hội chiếm hữu nô lệ, chiếc cày sinh ra xã hội phong kiến, và máy hơi nước sinh ra xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN). Nhưng chính Mác và Lênin lại xác định,CNXH dựa trên nền đại công nghiệp cơ khí giống như CNTB. Như vậy, đã có hai hình thái KTXH trên cùng một trình độ CCLĐ. Tức là Mác và Lênin đã không nhất quán, tự mâu thuẫn với chính mình. Nếu theo đúng học thuyết hình thái KTXH, thì CNXH phải có cơ sở CCLĐ khác, cao hơn đại công nghiệp. Vậy mà Liên Xô, Đông Âu thời kỳ 1917- 1991 trước đây đều có CCLĐ, LLSX, năng suất lao động (NSLĐ), mức sống, thu nhập bình quân đầu người... không những không hơn, mà thậm chí lại còn kém xa những nước phương Tây. Do đó, các xã hội được gọi là XHCN từ trước đến nay, thật ra đều chưa phải là CNXH.
Mặt khác, hàng trăm năm đã qua từ Mác, Lênin và trong một thời hạn chắc chắn là không ngắn nữa, các nước phương Tây đã, đang và vẫn sẽ là TBCN. Không những thế, chúng còn tiếp tục phát triển ngày càng cao, mà không hề “giãy chết” (hay cho dù chỉ là “đang chết dần đi”) như Lênin nhận định. CNTB thế giới nói chung vẫn không ngừng đi lên, mà chưa hề bước vào giai đoạn tột cùng của nó. Một loại CCLĐ mới cao hơn đại công nghiệp cơ khí cũng chưa xuất hiện. Cho nên, tất cả những nước còn lại, nhất là các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, tất yếu đều phải đi theo con đường TBCN, hội nhập vào quỹ đạo của CNTB do phương Tây dẫn đầu.
Có nghĩa là, trong bối cảnh ấy của CNTB, mục tiêu CNXH không hề tồn tại, không thực tế và cũng hoàn toàn không cần thiết. Con đường XHCN là vô vọng, vô ích, bất khả thi. Từ trước đến nay không những chưa có CNXH thực sự ở bất kỳ đâu; mà ngay cả trong tương lai xa cũng không xuất hiện khả năng, điều kiện cho nó ra đời, tức là không thể có CNXH. Bởi vậy, cần từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên hình thái KTXH XHCN, CSCN xa xôi, mơ hồ, vô căn cứ, để hướng tới mục tiêu thiết thực, chắc chắn về “sự phát triển” ở các mức độ cao hay thấp cụ thể, thích hợp khác nhau với từng quốc gia, dân tộc. Điều này thực chất chính là hướng tới mục tiêu, con đường CNTB, một chế độ xã hội có cơ sở kinh tế - kỹ thuật đầy đủ, tương thích và còn giàu tiềm năng cách tân, sáng tạo, tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ (!?).
Dưới đây sẽ xem xét kỹ hơn, để chỉ rõ sai lầm của những ý kiến trên cả về học thuật lẫn về thực tế.
2. Công cụ lao động trong phương thức sản xuất
CCLĐ chỉ là sản phẩm hoạt động của chủ thể người lao động. Mác nói đến CCLĐ của người lao động nhất định, không phải CCLĐ bất kỳ, tự thân, chung chung. CCLĐ tách khỏi người lao động, thì chưa phải là thành tố của sản xuất. Bản thân CCLĐ không quy định cái gì khác, càng không quy định người lao động. Tính độc lập của nó đối với người lao động chỉ là tương đối. Nó chỉ trở thành CCLĐ đúng nghĩa khi gắn với người lao động nhất định cụ thể tương ứng.
Mối quan hệ giữa người lao động với giới tự nhiên được thực hiện thông qua CCLĐ và bằng CCLĐ. CCLĐ đó gắn liền với chủ thể người lao động, là năng lực chinh phục, cải tạo giới tự nhiên vốn tiềm ẩn bên trong họ, đã vật thể hóa ra bên ngoài. Khi được người lao động tạo ra, CCLĐ trở thành “khí quan” của họ trong quá trình lao động sản xuất, được họ sử dụng, phù hợp và tương thích với họ. CCLĐ trong trạng thái tĩnh tại, bất động, tách rời người lao động, chỉ còn là khối vật thể thuần túy.
Nhưng ngay cả khi gắn với người lao động, CCLĐ cũng chỉ có thể góp phần cùng với họ tạo nên một trình độ kinh tế - kỹ thuật cụ thể nhất định của LLSX, mà không trực tiếp quy định bản chất KTXH của QHSX. Toàn bộ LLSX nói chung, như một hệ thống các nhân tố hợp thành, bao gồm CCLĐ, đối tượng lao động, phương tiện lao động, và trước nhất là người lao động, mới chính là cái trực tiếp quy định bản chất KTXH của QHSX, phương thức sản xuất. Trong hệ thống chung của LLSX, chính người lao động với tất cả các thế hệ hiện tại và trước đó kế tiếp nhau là chủ thể chân chính đích thực tạo ra, quyết định CCLĐ. Ngay cả những CCLĐ có sẵn và có trước người lao động thì cũng không chi phối họ hoàn toàn. Bởi vì, chúng vẫn chỉ là kết quả của các thế hệ người lao động đi trước.
CCLĐ và người lao động được nói đến ở đây không phải là CCLĐ và người lao động lắp ghép tùy tiện, gò ép, ngẫu nhiên với nhau. Đó là một tổng thể hoàn chỉnh kết hợp, tổng hợp thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ giữa người lao động với CCLĐ. Người lao động nào thì có CCLĐ ấy tương ứng, và ngược lại. CCLĐ của người công nhân công nghiệp thế kỷ XXI đương nhiên không thể là cái rìu đá. Một dây chuyền máy tự động không phải là CCLĐ cho người tiền sử. Người lao động của một nền sản xuất lạc hậu có thể có được CCLĐ tiên tiến nhờ sự giúp đỡ, viện trợ từ bên ngoài (như Mông Cổ trong giai đoạn 1921-1991). Hoặc ngược lại, người lao động của nền sản xuất phát triển cao có thể phải sử dụng CCLĐ lạc hậu, khi bị mất cơ sở kinh tế - kỹ thuật tiên tiến vì thiên tai, chiến tranh (như Đức, Nhật Bản sau năm 1945). Nhưng đây chỉ là trường hợp ngoại lệ, không có ý nghĩa phổ biến.
QHSX giữa những người lao động với nhau phù hợp tất yếu với mối quan hệ giữa họ với tự nhiên, do mối quan hệ này quy định. Nhưng không phải là chỉ riêng CCLĐ quy định QHSX. Thật ra, người lao động tự xác lập quan hệ KTXH của mình, nhưng không tùy tiện mà căn cứ vào điều kiện kinh tế - kỹ thuật hiện thực khách quan của chính họ. Mác đã từng viết: “sở hữu là hậu quả tất yếu của những công cụ sản xuất hiện có”, “công nghiệp lớn xóa bỏ sở hữu tư nhân”(1). Đây chỉ là một cách diễn đạt vắn tắt, ngắn gọn về LLSX nói chung bao gồm cả người lao động. Trên thực tế, CCLĐ nào cũng thuộc về một người lao động nhất định.
Nếu coi “CCLĐ tạo nên người lao động, quy định QHSX”, thì đó là sự lẫn lộn về nguyên tắc. Cái quy định QHSX ở đây vẫn là người lao động với CCLĐ, tức là những bộ phận hợp thành yếu tố chính của LLSX. Đó là, người lao động sử dụng CCLĐ chứ không phải chỉ có hai bàn tay trắng và khối tri thức, thông tin trong đầu óc dù to lớn sâu sắc đến bao nhiêu. Và CCLĐ gắn kết, tương hợp với người lao động, được họ vận hành trong lao động sản xuất, chứ không phải chỉ là khối vật thể, vật chất - kỹ thuật riêng biệt dù tiên tiến, hiện đại đến đâu.
3. Công cụ lao động trong hình thái kinh tế - xã hội 
Các CCLĐ được nêu trên đã thật sự tiêu biểu, đặc trưng cho những hình thái KTXH tương ứng chưa? Chẳng hạn, ở phương Tây thời phong kiến trung cổ, CCLĐ điển hình là chiếc cối xay gió, chứ không phải là cái cày. Nhưng ngay trong thời đại của mình những chiếc cối xay ấy, mà nay vẫn còn lại như một di tích lịch sử đặc sắc ví dụ ở miền đồng quê Hà Lan, cũng mang đậm ý nghĩa biểu tượng hơn là vai trò thực tế. Vậy thì tiêu chí của các CCLĐ đặc thù, phân biệt những hình thái KT-XH ấy là gì? Có phải là trình độ, chất lượng, hàm lượng kỹ thuật - công nghệ trực tiếp, đơn thuần của các CCLĐ này? Hay là quy mô, mức độ, hiệu quả xã hội hóa đối với nền sản xuất mà chúng tạo ra, từ đó làm thay đổi bản chất KTXH của QHSX?
Theo Mác, tuy LLSX trực tiếp quy định QHSX, song cái trực tiếp quy định bản chất KTXH của  hình thái KTXH lại là QHSX(2). Bởi vậy, rất cần trở lại với thực chất tư tưởng, văn cảnh cụ thể của những luận điểm của Mác, Ăngghen, Lênin một cách đầy đủ, nghiêm túc, thay vì chỉ dẫn ra một số câu trích từ những tác phẩm đồ sộ, rộng lớn của các ông(3).
Cái gậy, chiếc cung tên, cái cuốc, cái cày, hoặc kể cả cối xay gió đều chỉ là những CCLĐ thủ công. Điểm khác biệt của cái cày dùng sức kéo đại gia súc, hay chiếc cối xay gió lợi dụng sức gió với cái cuốc, cái gậy, chiếc cung đều không đáng kể về chất. Những nguồn động lực cung cấp cho thao tác lao động sản xuất này, dù nhỏ hay lớn, thậm chí còn là rất lớn, vẫn có nhiều hạn chế(4). Vậy mà theo ý kiến trên, các CCLĐ cùng một trình độ thủ công ấy lại tạo ra ba hình thái  KTXH khác biệt nhau. Còn máy hơi nước là CCLĐ cơ khí hoàn toàn khác về chất, thì lại chỉ tạo ra được duy nhất CNTB. Hình thái KTXH mới XHCN phải dựa trên cơ sở một CCLĐ khác cao hơn đại công nghiệp cơ khí. Nếu CCLĐ thủ công đã làm cơ sở chung cho ba  hình thái KTXH, thì tại sao CCLĐ cơ khí không thể tạo ra hơn một hình thái KTXH? 
Cho nên, cơ sở của CNXH không phải là một nền kinh tế - kỹ thuật, CCLĐ mơ hồ, trừu tượng, mà vẫn là một nền sản xuất vật chất phát triển cao. Nó bao gồm một số ngành, lĩnh vực công nghiệp, hoặc kể cả ngoài công nghiệp mới nào đó. Nhưng chúng vẫn gắn với công nghiệp và không thay thế công nghiệp.
CCLĐ đại công nghiệp trong tương lai với trình độ cao hơn hiện nay, có thể sẽ tạo nên cơ sở kinh tế - kỹ thuật của CNXH, CNCS. Về mặt nguyên tắc, có thể nói như vậy và cũng chỉ có thể nói thế thôi. Ngay từ bây giờ đòi hỏi đã phải chỉ ra được cụ thể CCLĐ ấy là gì, thì chính là điều phi lịch sử, phi thực tế. Điều đó sẽ khó tránh khỏi hoặc rơi vào quan điểm tư biện, chủ quan, không luận chủ nghĩa, hoặc chuyển sang tư duy khoa học viễn tưởng kiểu Giuynlơ Vécnơ.
Khi nói về xã hội tương lai, Mác tránh đi vào sự mô tả chi tiết mà chỉ khẳng định rõ: CNCS nảy sinh không phải từ hư vô mà từ CNTB. CNTB tiêu biến cũng không phải vào hư vô mà để lại “những dấu vết” trong CNCS. Do đó, giữa chúng tất yếu có một “thời kỳ quá độ chính trị” - thời kỳ quá độ (TKQĐ) như lâu nay thường gọi tắt, với nhà nước là “nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(5).
Một CCLĐ cụ thể đặc trưng theo một ý nghĩa tương đối cho CNXH, CNCS có thể đến trình độ phát triển cao của hình thái KTXH này mới xuất hiện. Nhưng khi ấy nó cũng vẫn chỉ là kết quả, chứ không phải là nguyên nhân của hình thái đó. Mác - Ăngghen đã luận giải sâu sắc rằng, ngay từ nửa sau thế kỷ XIX, nền đại công nghiệp cơ khí đã bắt đầu vượt qua chế độ tư hữu và cơ chế cạnh tranh tự do TBCN. Khi ấy, với CCLĐ này đã bắt đầu có thể xác lập chế độ sở hữu và sự quản lý chung của toàn xã hội đối với nền sản xuất, tức là QHSX CSCN(6).
Như vậy, cách tiếp cận mối quan hệ CCLĐ (quy định)/ hình thái KTXH trong ý kiến trên, là vừa thiếu chính xác, chặt chẽ vừa không hợp lý, nhất quán. Các CCLĐ đã nêu đều không đặc trưng, theo nghĩa là nguyên nhân quyết định cuối cùng cho những hình thái KTXH. Nhiều lắm chúng cũng chỉ biểu đạt các kiểu loại, dạng thức xã hội nào đó nhất định, nhưng không theo tiêu chí hình thái KT-XH mang tính tổng hợp, đồng bộ, hệ thống, cân đối, tức hoàn toàn không phải là những hình thái KTXH.
Tóm lại, CCLĐ không quy định, quyết định người lao động, QHSX, phương thức sản xuất, hình thái KTXH. Nền đại công nghiệp cơ khí giữa thế kỷ XIX đã có thể trở thành cơ sở ban đầu cho CNXH, mặc dù bản thân CCLĐ hùng mạnh này vẫn tiếp tục phát triển lên những trình độ mới ngày càng cao hơn nữa trong CNTB. Chính vì vậy, một kết luận lôgíc được rút ra ở đây là, xét trong cả tiến trình đi từ CNTB lên CNXH ở một số nước nhất định, thì giai đoạn đầu tiên của tiến trình đó hoàn toàn có thể thấp hơn về CCLĐ, kinh tế... so với một số nước TBCN phát triển cao hơn nào đó khác cùng thời.
4. Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
CNXH đương nhiên là cao hơn về mọi mặt, trước hết là về kinh tế kể cả so với CNTB phát triển tới đỉnh điểm. Nhưng TKQĐ “lâu dài, khó khăn” từ CNTB nói chung trực tiếp lên CNXH, nhất là chặng đầu của TKQĐ đó, có thể không cao hơn mà thậm chí còn thấp hơn CNTB đỉnh cao. Đặc biệt, đối với TKQĐ từ điểm xuất phát tiền TBCN nửa trực tiếp, hoặc gián tiếp lên CNXH, thì chặng đầu thấp hơn CNTB sẽ còn lâu dài, khó khăn gấp bội, và đây là điều tất yếu.
TKQĐ từ CNTB trực tiếp lên CNCSnhìn chung cao hơn CNTB đã đạt đến đỉnh điểm. Tuy nhiên, đỉnh điểm về lôgíc và về lịch sử trên thực tế không trùng nhau về thời gian, không gian. Quy luật kinh tế cơ bản của CNTB bắt đầu phát huy tác động đầy đủ và chi phối, thống trị tuyệt đối sớm hơn rất nhiều so với thời điểm xã hội TBCN kết thúc. Cái lịch sử kéo dài sự tồn tại quá thời rất lâu, sau khi cái lôgíc đã hoàn tất. CNTB có thể phát triển cao sớm nhất ở một quốc gia, dân tộc này, nhưng lại bị thay thế trước tiên ở một quốc gia, dân tộc khác. Trên thực tế, CNTB xuất hiện mầm mống kinh tế đầu tiên ở Italia thế kỷ XIV; xác lập chế độ nhà nước hoàn chỉnh sớm nhất ở Hà Lan thế kỷ XVI, ở Anh thế kỷ XVII; thực hiện các cuộc cách mạng tư sản điển hình triệt để ở Pháp năm 1789, ở Mỹ năm 1776.
Cho nên, tại một số nước TBCN đạt đến đỉnh điểm lôgíc, tuy không phát triển cao nhất nhưng đã bắt đầu TKQĐ, thì CNTB ở đây cũng kết thúc cả về mặt lịch sử. Trong khi đó, tại một số nước TBCN khác, tuy phát triển cao nhất nhưng chưa đi vào TKQĐ, thì sự phát triển lịch sử của CNTB vẫn tiếp diễn. Lúc này, so với những nước thứ hai, thì những nước thứ nhất vẫn sẽ thấp hơn về mặt kinh tế, nhất là trong giai đoạn đầu của TKQĐ. Chỉ đến giai đoạn cuối của TKQĐ, thì về mọi mặt chúng mới hoàn toàn vượt qua CNTB.
Mác - Ăngghen cũng đã lần đầu tiên đề cập tới khả năng về TKQĐ từ xã hội tiền TBCN không hoàn toàn trực tiếp, mà nửa trực tiếp đi lên CNCS bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Ở đây nước lạc hậu được nước TBCN tiên tiến phương Tây giúp đỡ về cơ sở kinh tế - kỹ thuật. Chúng tác động qua lại lẫn nhau và cùng đi vào TKQĐ(7). Trong trường hợp này, giai đoạn đầu của TKQĐ ở nước lạc hậu thấp hơn CNTB rõ rệt về CCLĐ, kinh tế.
Khả năng về TKQĐ nửa trực tiếp được Mác - Ăngghen khái quát từ thực tế nước Nga Sa hoàng đương thời và liên hệ với một tiền lệ lịch sử có ý nghĩa tham chiếu gợi mở lớn. Tiền lệ ấy được hai ông quan tâm ngay từ giữa những năm 1840, đề cập nhiều lần trong suốt thời gian về sau. Đó là trường hợp người Giécmanh thời cổ đại ở Tây Âu, đã từ xã hội công xã nguyên thủy quá độ nửa trực tiếp lên xã hội phong kiến bỏ qua giai đoạn phát triển chiếm hữu nô lệ(8). Cùng tham gia vào bước quá độ này là người La Mã đã đạt tới trình độ cao của xã hội chiếm hữu nô lệ.
Kế thừa và phát triển Mác - Ăngghen, trong thời đại mình, Lênin nêu lên và hiện thực hóa ở nước Nga lý luận về TKQĐ từ các quốc gia dân tộc lạc hậu tiền TBCN riêng biệt, gián tiếp lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Nội dung cơ bản  cốt lõi của lý luận này là sử dụng kinh tế TBCN để xây dựng, phát triển LLSX cho CNXH, tức là chính sách kinh tế mới (NEP). Tuy nhiên, khi gặp tình thế chiến tranh quân sự khẩn cấp, khó khăn, có thù trong giặc ngoài, sự phản loạn phục thù của tư sản, quý tộc, địa chủ bên trong hoặc sự can thiệp xâm lược bên ngoài của CNTB, chủ nghĩa đế quốc thế giới, thì chuyển sang chính sách cộng sản thời chiến. Trong TKQĐ gián tiếp này, hiển nhiên là CCLĐ, nền kinh tế không thể cao hơn, mà một thời gian đầu rất dài vẫn sẽ thấp hơn hẳn so với CNTB. Vì thế Lênin nêu rõ, sau Cách mạng Tháng Mười ở nước Nga Xôviết nói CNXH chỉ là với ý nghĩa quyết tâm xây dựng CNXH, chứ không phải đã có nền kinh tế XHCN thực sự(9).
Như vậy, lý luận Mác - Lênin về TKQĐ làm sáng tỏ rằng, không phải CNXH, mà giai đoạn đầu của TKQĐ nói chung, TKQĐ gián tiếp nói riêng lên CNXH thường thấp hơn CNTB đã phát triển cao về các mặt kinh tế, LLSX, khoa học - kỹ thuật - công nghệ, NSLĐ, CCLĐ... Điều này không mâu thuẫn, mà được hàm chứa chính trong nội dung thống nhất, toàn diện, sâu sắc biện chứng của lý luận đó nói chung, lý luận về TKQĐ gián tiếp nói riêng.
5. Thực chất của “chủ nghĩa xã hội hiện thực”
Trên thực tế, và cũng theo đúng lý luận Mác- Lênin về TKQĐ, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, những nước XHCN hiện nay đều chưa phải là các xã hội XHCN thật sự. “CNXH hiện thực” thật ra chỉ là các xã hội định hướng XHCN, đang ở TKQĐlên CNXH với những trình độ phát triển khác nhau. Hơn nữa, TKQĐ đó về thực chất chỉ là gián tiếp. Không phụ thuộc vào những tuyên bố của chính giới, giới học thuật tại một số nước XHCN trước đây và hiện nay, điều này đã được thực tế lịch sử và thực tiễn cách mạng thế giới kiểm chứng, khẳng định. TKQĐ gián tiếp này sẽ chỉ kết thúc khi nó hoàn toàn vượt qua CNTB trên toàn thế giới về mọi mặt cả tương đối lẫn tuyệt đối, cả đồng đại lẫn lịch đại, trong tất cả các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, tinh thần, đặc biệt là kinh tế. Cho nên, trước khi đạt tới trình độ ấy, trong thời gian đầu khá dài TKQĐ gián tiếp kém xa CNTB về CCLĐ, kinh tế là điều rất bình thường, tự nhiên.
Trong khi đấy, sau Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga đã 100 năm và sau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã 170 năm, do sự phát triển “ngoắt nghoéo, dích dắc của lịch sử” (Lênin) mà triển vọng về các TKQĐ trực tiếp, nửa trực tiếp có thể vẫn còn xa. Chính bởi thế, trong những vấn đề cơ bản nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, lý luận về TKQĐ gián tiếp trở thành một nội dung có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với hệ thống lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt từ năm 1930 tới nay. Ý nghĩa này càng tăng lên trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986, khi Liên Xô trước đây bắt đầu đi vào cải tổ và cắt giảm đáng kể sự giúp đỡ đối với Việt Nam, đặc biệt là từ năm 1991 đến nay. Đối với tất cả các nước đang và chậm phát triển nói chung sau cơn địa chính trị toàn thế giới năm 1989-1991, lý luận đó cũng có ý nghĩa tương tự. Bởi vì, nếu như từ năm 1917 như Lênin chỉ rõ, con đường đi lên CNXH của các quốc gia, dân tộc thuộc địa, phụ thuộc lạc hậu là “liên minh chặt chẽ với nước Nga Xôviết, với các nước cộng hòa xôviết”, tức thực hiện TKQĐ nửa trực tiếp. Thì từ năm 1991 con đường đó về cơ bản chuyển thành TKQĐ gián tiếp, như Lênin từng vạch ra cho chính nước Nga.
Nhưng dù mới chỉ là TKQĐ gián tiếp thì cũng chính là đã bắt đầu thực sự tồn tại con đường đi lên CNXH. Ở đây nếu cho rằng đã có CNXH, thì sẽ là không tưởng, “tả khuynh”, giáo điều, bảo thủ, chủ quan. Nhưng nếu coi là hoàn toàn chưa có và sẽ không thể có CNXH, nên phải đi con đường TBCN “phù hợp với quy luật tự nhiên”, thì lại là ngụy biện, hữu khuynh, cơ hội, thực dụng. Cả hai loại ý kiến này đều phi biện chứng, trái với thực tế. Đặc biệt, chúng không thấy được tính đặc thù của TKQĐ gián tiếp là, trong một thời gian đầu khá lâu dài sẽ thấp hơn CNTB về kinh tế - kỹ thuật. Nhưng mặt khác, TKQĐ ấy dù sao cũng là con đường nhanh nhất, chắc chắn nhất để phát triển thực sự và đi lên CNXH.
Liên quan đến điều này, có thể thấy thêm rằng, cho đến nay vẫn tồn tại quan điểm đồng nhất TKQĐ trực tiếp với CNXH. Nhưng với TKQĐ gián tiếp thì không thể là CNXH được. Bởi vì, trong giai đoạn đầu nó tất yếu thấp hơn đỉnh điểm lôgíc, chưa nói đỉnh điểm lịch sử của CNTB. Nếu TKQĐ gián tiếp chính là CNXH, và “CNXH” này thực tế thấp hơn CNTB, thì đây là điều hoàn toàn phi lý, nghịch lý. Nó sẽ làm đảo lộn toàn bộ hệ thống lý luận Mác- Lênin, do thế không thể chấp nhận được. Rõ ràng, tư tưởng của Lênin phân biệt TKQĐ với CNXH(10), là hoàn toàn hợp lý, đúng đắn và vô cùng sáng suốt. Nó đã bao quát chính xác, tiên lượng thiên tài về triển vọng mang tính hiện thực cao của TKQĐ gián tiếp trong khả năng tổng quát về TKQĐ nói chung.
Những ý kiến nêu trên đã áp đặt một “tam đoạn luận” cho rằng: i) Tại Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây và những nước XHCN hiện nay đã có “CNXH đích thực”; ii) Nhưng vì về CCLĐ, kinh tế CNXH ấy rõ ràng thấp hơn hẳn CNTB, là chế độ vẫn đang tiếp tục phát triển ngày càng hiệu quả, mạnh mẽ; iii) Cho nên phải phủ nhận CNXH, khẳng định CNTB. Tư duy và hệ luận này thống nhất với luồng quan điểm sai trái xuất hiện, tồn tại trong nước từ gần 30 năm nay. Chúng tương đồng, tích hợp, tổng hợp những quan điểm của các tư tưởng gia, lý luận gia “cải tổ” nửa cuối những năm 1980 phủ nhận hoàn toàn CNXH Xôviết và của Phukuyama, học giả Mỹ nổi danh vào năm 1989, khi cho rằng lịch sử xã hội loài người “cáo chung” với đỉnh cao khải hoàn tột bậc là CNTB. Tư duy và hệ luận đó, từ ngộ nhận đã đi đến đối lập với một số nội dung lý luận Mác - Lênin quan trọng, có tính thực tiễn vừa trực tiếp cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng XHCN nước ta.
Để góp phần khắc phục sai lầm trên và những hạn chế khác trong nhận thức về mục tiêu, con đường lên CNXH ở Việt Nam ngày nay, từ cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tiếp tục làm rõ thêm một số vấn đề cấp bách, thiết thực sau:
i) Biện chứng của quá trình hình thành, sinh thành, trưởng thành, phát triển, quá độ, chuyển hóa, phủ định của phủ định các hình thái KTXH.
ii) Tính đặc thù của CNXH trong toàn bộ quá trình trên.
iii) Lý luận về các TKQĐ trực tiếp, nửa trực tiếp lên CNCS của Mác - Ăngghen, đặc biệt là TKQĐ gián tiếp lên CNXH của Lênin.
iv) Thực tiễn về TKQĐ gián tiếp lên CNXH: quá trình lịch sử, kinh nghiệm xôviết; những điều kiện, khả năng mới trong giai đoạn hiện nay của thời đại ngày nay; nội dung, đặc điểm ở Việt Nam thời gian qua và hiện nay.
______________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016
1. Mác: Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.94-95.
2. Mác: Lời tựa Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859), Sđd, t.13, tr.15.  
3. Liên quan đến vấn đề ở đây, xem thêm: Mác: Hệ tư tưởng Đức, Sđd; Mác: Tư bản. Phê phán khoa kinh tế chính trị (1867), Sđd, t.23, tr.1056-1060.
4.  Mác: Tư bản, Sđd, tr.543-545.  
5. Mác: Phê phán Cương lĩnh Gô-ta (1875), Sđd, t.19, tr.47.
6. Mác - Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1847-1848), Sđd, t.4, tr.604.
7. Mác: Những bản dự thảo thư trả lời thư của V.I.Da-xu-lích (1881), Sđd, t.19, tr.572-603.   
8. Mác: Hệ tư tưởng Đức, Sđd, t.3, tr.106-107.   
9. Lênin: Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh”...(1918), V.I.Lênin: Toàn tập, t.36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.362.
10. Lênin: Nhà nước và cách mạng (8-9/1917), V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.33, tr.222-223, 390-391.
PGS, TS PHẠM VĂN CHÚC
Ban Thư ký  Hội đồng lý luận Trung ương



Hai “cái tự” nguy hại






HSSK - Một ngày cuối năm, tình cờ tôi giở Đại từ điển tiếng Việt ra đọc. Ở mục từ TỰ, với định nghĩa là từ biểu thị hoạt động do chủ thể tiến hành chứ không phải nhờ đến người khác, tôi bỗng cảm thấy có điều đáng suy ngẫm. Có nhiều cái tự rất hay, cũng không ít cái tự không thể nói là không dở.
Hay là: tự tin, tự trọng, tự tôn, tự hào, tự lập, tự lực tự cường, tự nguyện, tự giác...
Dở là: tự đắc, tự ti, tự tư tự lợi, tự phụ tự mãn, tự cao tự đại...
Liên hệ đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII mới đây về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, thấy có hai cái tự không chỉ dở mà còn rất nguy hại: “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hơn 3 thập niên trước, thời còn Chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống thế giới, chúng ta từng nghe nói đến âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, không qua chiến tranh và súng đạn... Đáp lại, phe ta tiến hành cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
Ở nước ta, 8 năm sau đổi mới, năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta cảnh báo bốn nguy cơ trước mắt của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó, “diễn biến hòa bình” là một. 
Năm 2016, qua 30 năm đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, Đại hội XII của Đảng vẫn nhận định: bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta. 
Vậy trong cuộc chiến giữa “diễn biến hòa bình” và “chống diễn biến hòa bình”, phải chăng các thế lực thù địch ở thế tiến công, còn ta trong thế bị động? Không hoàn toàn như vậy. Nhưng cũng cần thấy, trận địa tư tưởng của ta còn nhiều khoảng trống, có lúc bị buông lơi. Thực tế là, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước. 
Về những biểu hiện của suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đưa ra sự nhận diện khá đầy đủ. Và chỉ rõ: sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường. 
Xin hãy thử xem.
Có những cán bộ, đảng viên mới ngày nào còn thề trung thành với Đảng, với cách mạng nay bỗng quay ngoắt lại, trở thành con người khác. Họ lên tiếng phản bác, phủ nhận những gì trước đây họ từng ủng hộ, cho là đúng, là phải. Những biểu hiện cụ thể là: phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an... Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí và văn học - nghệ thuật, cổ súy cho tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội.
Đó còn là: nói, viết và làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Câu kết với các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá quan điểm đối lập, thậm chí vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá.
Về sự nhận diện này, có câu hỏi đặt ra là: liệu nhận diện như vậy có quá khắt khe, cứng nhắc và cường điệu? Có làm cho những người có ý kiến phản biện cảm thấy bị quy chụp chăng?
Ai chẳng biết, phản biện xã hội, tự do tư tưởng, tự do phát biểu ý kiến là những quyền đã được luật pháp công nhận. Nhưng phản biện là để tìm ra lẽ phải, ủng hộ cái đúng, phê phán cái sai nhằm xây dựng chế độ chứ đâu phải để phản bác, phủ nhận, phá bỏ sạch trơn? Chắt lọc, tiếp thu có chọn lựa cái hay, cái tốt của các nền dân chủ Đông - Tây không có nghĩa là bê nguyên xi mô hình của nước này hay nước khác vào nước ta. 
Bản nhận diện không chỉ đích danh cá nhân hay tổ chức cụ thể nào, nhưng qua đó, mỗi người, mỗi tổ chức có thể tự liên hệ, tự kiểm điểm để phòng, tránh và khắc phục.
Suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là biểu hiện của sự thoái hóa, nhưng ở “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sự thoái hóa đã đến mức thành biến chất. 
Phương thuốc hữu hiệu là gì? Là thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nêu lên.
Đối với mỗi cá nhân, tổ chức, việc trước hết là phải tự học tập, rèn luyện. Không ai từ xấu trở thành tốt mà không qua rèn luyện. Còn nếu buông thả theo những dục vọng cá nhân thì tốt trở nên xấu chỉ là trong gang tấc. 
Chuyện xưa kể lại: một con cáo nhờ khổ công tu luyện nghìn năm mà được hóa thành người, rồi chỉ một phút lỡ lầm vì dục vọng mà bị trừng phạt, tức khắc từ kiếp người trở lại nguyên hình kiếp thú.
Cậu chuyện có vẻ hoang đường, nhưng phía sau nó là một thứ đạo lý có thể giúp những ai trót sa chân vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tĩnh tâm nghĩ lại./.

Hà Đăng
(Trích nguồn: Tạp chí Cộng sản online ngày 13/2/2017   http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Sinh-hoat-tu-tuong/2017/43470/Hai-cai-tu-nguy-hai.aspx)

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI ĐỂ THỰC HIỆN ĐÚNG PHÁP LUẬT VÀ KHÔNG ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ


                                                          Nhân Thịnh
Luật đất đai năm 2013 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 thàng 11 năm 2013 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 quy định: Đất đai thuộc sử hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đây là những nội dung căn bản về quyền sở hữu và sử dụng đất đai ở nước ta thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Để thực hiện quyền sở hữu và sử dụng đất đai ở nước ta hiện nay, nó là thành quả lâu dài của quá trình đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Nó thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Xuất phát từ thực tiễn đất nước, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đang thực hiện công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, trong đó, đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Vậy mà, có một số người nhận thức chưa đúng về vấn đề này. Chẳng hạn, khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những nhiệm vụ như: an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, những công trình công cộng phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng.v.v. thì một số người chưa thật sự hiểu thấu đáo về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, cho nên, chưa thực hiện đầy đủ chính sách, pháp luật về đất đai, có những biểu hiện hành vi chưa đúng, thậm chí quá khích dẫn đến vi phạm pháp luật phải xử lý.

Đáng nói là, liên quan đến việc giải quyết chính sách đất đai của Nhà nước (chính quyền các cấp) với người dân theo quy định của pháp luật, các thế lực thù địch và phản động lợi dụng “đục nước béo cò”, tìm mọi cách kích động, chống phá, lôi kéo, dụ dỗ, nói xấu, xuyên tạc…làm phức tạp thêm tình hình ở một số nơi trong thời gian vừa qua. Ở vấn đề này, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, nhận thức sâu sắc thêm về pháp luật, giải quyết đúng thầm quyền, không để kẻ địch lợi dụng để chống phá là việc lầm cần thiết đối với mỗi người dân Việt Nam.

HÀNH VI CHỐNG PHÁ CỦA HAI LINH MỤC ĐẶNG HỮU NAM VÀ NGUYỄN ĐÌNH THỤC LÀ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC

  
                                                                              Nam
            Trong ngày 29 và 30 tháng Tư năm 2017, lợi dụng tự do tôn giáo, hai linh mục là Đặng Hữu Nam và Nguyễn Đình Thục tại giáo sứ Phú Yên, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có hành vi chống phá Đảng, Nhà nước. Hai linh mục này đã trắng trợn rao giảng, tuyên truyền sai sự thật về lịch sử ngày 30/4, kích động, dụ dỗ một số giáo dân địa phương gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
          Quyền tự do tôn giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân là hoàn toàn chính đáng. Thông qua thực hiện quyền tự do tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật nó thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Khi thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận người dân nó sẽ góp phần là một trong những động lực của quần chúng, động lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, Đảng, Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện cho mỗi công dân có quyền tự do tôn giáo trên cơ sở đúng pháp luật và lợi ích của quốc gia, dân tộc; đồng thời, thể hiện bản chất nhân văn, nhân đạo của một chế độ chính trị tốt đẹp.

Hai linh mục Đặng Hữu Nam và Nguyễn Đình Thục lợi dụng tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là việc làm tiêu cực, đi trái với truyền thống đoàn kết dân tộc, vi phạm pháp luật của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất Đặng Hữu Nam và Nguyễn Đình Thục đã móc nối với các thế lực thù địch, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá, đưa ra những yêu sách, đòi hỏi vô lý với chính quyền địa phương, tuyên truyền, kích động, nói xấu Đảng, Nhà nước gây mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cản trở quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Hành vi của Đặng Hữu Nam và Nguyễn Đình Thục là không thể chấp nhận được cần lên án và xét thấy có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì thì cần truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

SỰ THẬT VỀ LUẬN ĐIỂM “CỔ PHẦN HÓA LÀ CÔNG NHÂN KHÔNG BỊ BÓC LỘT”


                                          HB
Phải chăng, hiện nay các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân đã “trung lưu hoá” và đều có cổ phần trong xí nghiệp, công ty cho nên giai cấp công nhân cùng giai cấp tư sản đều là ông chủ vì vậy giai cấp công nhân không còn bị bóc lột nữa?
Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hóa ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Ngưi dân trong đó có cả giai cấp công nhân hễ có tiền tích luỹ là có thể mua cổ phiếu ở xí nghiệp, công ty cổ phần nào đó, với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Bởi vì, một chủ tư bản trong tay không cần một số lượng lớn tư bản, nhưng nhờ huy động vốn thông qua cổ phần hóa nên có lượng tư bản đủ lớn để sản xuất kinh doanh, mà vẫn đảm bảo cho tư bản vẫn có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty. Tư bản bán cổ phiếu cho ngưòi lao động chỉ diễn ra trong một chừng mực nhất định mà không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của công ty và thu được lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chính là một phần giá trị thặng dư do chính bản thân công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi.
Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”. Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là một phương pháp hữu hiệu để giai cấp tư sản trói cht người lao động và bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào tư bản. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa dối mình mà thôi. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là “hiệu ứng của cải”, làm cho tình hình mua đi bán lại các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ngày càng trở nên nhộn nhịp, làm cho tư bản sẽ ngày càng tăng lên so với tư bản thực tế và càng nói lên tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản độc quyền, chứ chẳng phải chủ nghĩa tư bản đã là “chủ nghĩa tư bản nhân dân” như người ta cố tình nói.
Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì sự “trung lưu hoá” ấy cũng là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới – đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh, liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; sự trung lưu hóa đó là biểu hiện của giai cấp tư sản đã điều chỉnh. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C. Mác trong thế kỷ XIX.
Đó là sự thật. Thế nhưng giai cấp công nhân đã là ông chủ như giai cấp tư sản nên không phải bị bóc lột nữa thì đúng thật là mù quáng và hoang đường. Đó chỉ là những luận điểm của những kẻ ăn bám đi lừa dối những người lao động để nhằm duy trì sự bóc lột mà thôi.