Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017
SỰ ĐÚNG ĐẮN VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở VIỆT NAM
HB
Trong
thời gian qua, có những kẻ đã quá nhấn mạnh "tính đặc thù" của Việt Nam.
Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể áp dụng với tâm lý và nhu cầu của con
người và hoàn cảnh của Việt Nam. Bởi vì lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin ra
đời cơ bản xuất phát từ thực tiễn phát triển của các nước châu Âu thế kỷ 18, 19.
Thế nhưng hiện nay thế giới đang ở cuộc cách mạng 4.0, mà Việt Nam là một nước
lạc hậu lại đem áp dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.
Trước hết phải khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác -
Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời
trên cở sở những tri thức tiên tiến nhất của thời đại và những thành tựu về lý
luận trong lịch sử của cả phương đông và phương tây. Ngay các nhà sáng lập của
chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhiều lần khẳng định, học thuyết của các ông không
phải là cái đã xong xuôi hẳn, còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện, thời
gian, cơ hội nghiên cứu cho nên các thế hệ cần bổ sung và phát triển. Mặt khác
chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng và khoa học, nghiên cứu những quy luật chung
nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Do đó nó hoàn toàn có khả năng dự báo theo
đúng quy luật.
Tại Việt
Nam, từ những năm 20 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào thông
qua lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số chiến sĩ cách mạng tiền bối bấy giờ và
ngày càng được truyền bá rộng rãi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam. Có thể khẳng
định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể để giải quyết các nhiệm vụ của cách mạng
Việt Nam, vừa là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin thích ứng
với những vấn đề do thực tiễn đất nước và lịch sử thời đại mới đặt ra.
Đảng cộng
sản Việt nam lãnh đạo công cuộc đổi mới đến nay đạt được những thành tựu hết
sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử cũng chính nhờ chúng ta nhận thức đúng đắn bản
chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới vừa qua cho thấy, kiên định và vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày càng làm sáng tỏ
con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới. Đó là con đường
phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; tức là
bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng tư bản chủ nghĩa; nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền tảng kinh tế hiện đại.
Với sự
hoàn thiện không ngừng trong thực tiễn, tư duy lý luận của Đảng ta đã cho thấy
chủ nghĩa Mác - Lênin hoàn toàn vận dụng vào Việt Nam để đưa nước ta tiến lên
chủ nghĩa xã hội và cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.
NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHOA XII ĐỂ ĐẨY MẠNH TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH
Chân
Lý
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã nhiều lần cảnh báo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng
Đảng hiện nay đã chỉ rõ một trong ba vấn đề cấp bách là suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống. Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “Tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức
tạp hơn”[1].
Tuy nhiên, Đại hội XII của Đảng chưa nhận diện và chỉ rõ những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị là gì.
Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII là Đảng ta đã
chỉ ra cụ thể chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đó là: Phai nhạt
lý tưởng cách mạng; nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận
và học tập lý luận chính trị; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của
Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; khi có khuyết điểm
thì giấu giếm, thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì
nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu
tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ
trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. Nói và viết
không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Nói không đi đôi với làm. Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ. Tham vọng chức
quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức. Vướng vào "tư duy nhiệm
kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho
mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu
chuẩn, điều kiện...
Cùng với việc chỉ ra chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ ra chín biểu hiện suy
thoái về đạo đức, lối sống, chín biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Như vậy, cái mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là: “… Trung ương thẳng
thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng
chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó nguy
hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường đi lên
xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan
điểm, đường lối của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo
vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái,
lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận,
chức trách nhiệm vụ được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh
hoạt đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham
quyền lợi; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó
khăn, bức xúc của dân”[2].
Vì vậy, nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những
biểu hiện suy thoái để đẩy mạnh tự phê bình và phê bình và đề ra các giải pháp
phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề
có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hiện nay.
CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VÀ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
Chân Lý
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa
XII đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW "Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ". Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XII ra đời cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện rõ quan
điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham
nhũng, lãng phí, can thiệp và những hành vi ngăn cản việc chống tham nhũng,
lãng phí; kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất,
lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”..
Lợi dụng việc Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, các
thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã xuyên tạc quan điểm, đường lối
của Đảng, nhằm “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết
điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền
bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”[1].
Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam
phải đưa ra vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy nguy cơ đe dọa sự tồn vong
của Đảng không phải từ xa, từ bên ngoài mà từ trong nội bộ, Đảng chỉ sửa lỗi hệ
thống “kiểu giật gấu vá vai”, là sự “tụt hậu” về ý thức hệ và sự sụp đổ là tất
yếu; rằng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đề ra từ rất lâu, nhưng đến nay
chưa có kết quả, việc triển khai các Nghị Quyết Trung ương từ trước đến nay chỉ
là hình thức. Từ đó, họ “lái” nhận thức xã hội về cuộc đấu tranh chống tham
nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng ta sang mục tiêu phủ nhận vai
trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những thông tin mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tán
phát trên không gian mạng không chỉ nhằm xuyên tạc sự thật, mà còn nhằm gây
chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước ta, phá hoại niềm tin của nhân dân ta đối với sự
lãnh đạo của Đảng, hòng chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân
quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập.
Cho dù các thế lực thù địch, cơ hội
chính trị nhân danh những “nhà yêu nước” có dùng âm mưu thủ đoạn thâm độc đến
đâu cũng không thể che đậy được dã tâm của họ. Chúng ta thấy rằng, mặc dù xã
hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề
bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ, sức
mạnh và bản lĩnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
Chúng ta tin tưởng rằng, với truyền
thống cách mạng vẻ vang và bản chất tốt đẹp của Đảng, ý thức tự giác và sự
gương mẫu của từng cán bộ, đảng viên, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, nhất
định toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đề ra,
để Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị và tư tưởng, thống nhất cao về ý chí
và hành động, trong sạch về đạo đức và lối sống, chặt chẽ về tổ chức, đủ sức
lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân
dân.
[1]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành
Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 32 - 33
Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017
LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY - MỘT THỦ ĐOẠN CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, do điều kiện khách quan về kinh tế - xã hội, để đáp ứng nhu cầu tinh thần
của nhân dân Đảng, Nhà nước ta khẳng định quyền tự do tôn giáo (được ghi trong
Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và là nhu cầu
tinh thần của nhân dân. Thực hiện quyền hợp pháp của công dân, nhu cầu chính
đáng của mỗi người dân về tự do tôn giáo cũng là một trong những “chất keo kết
dính” để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm góp phần tạo ra động
lực mạnh mẽ - động lực nội sinh của sự phát triển đất nước thực hiện thắng lợi
mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Thế
nhưng, lợi dụng tự do tôn giáo, các thế lực thù địch kết hợp với bọn phản động
trong nước, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị… với âm mưu và thủ đoạn
chống phá hòng chia rẽ khối đại đoạn kết dân tộc đã lợi dụng tự do tôn giáo để
đặt ra những yêu sách, đòi hỏi vô lý với chính quyền địa phương các cấp; lợi
dụng vào nhu cầu tinh thần của một bộ phận người dân để tuyên truyền, kích động,
nói xấu…gây xôn xao dư luận, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân với chế
độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Hơn nữa, các thế lực thù địch và bọn cơ
hội chính trị còn dụ dỗ làm cho một bộ phận người dân thờ ơ, lãnh đạm đối với những
vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, giảm sự tâm huyết, nhiệt tình đối với
công việc, không làm tròn bổn phận, trách nhiệm xã hội của công dân đối với đất
nước, tạo ra những khó khăn, vướng mắc, cố tình tạo ra những lực cản trong tổ
chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đi ngược
với lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Nhu
cầu tinh thần khi thực hiện quyền tư do tôn giáo của một bộ phận nhân dân là
hoàn toàn chính đáng. Thỏa mãn nhu cầu tinh thần cũng là một trong những động
lực của quần chúng, động lực của khối đại đoàn kết dân tộc. Vì thế, Đảng, Nhà
nước ta đã tạo mọi điều kiện cho mỗi công dân có quyền tự do tôn giáo trên cơ
sở luật pháp và lợi ích của quốc gia, dân tộc; đồng thời thể hiện bản chất nhân
văn, nhân đạo của một chế độ chính trị tốt đẹp. Trong sự nghiệp đổi mới hiện
nay, động lực phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là đặc biệt quan
trọng để mọi người người dân cống hiến tài lực, vật lực cho phát triển đất nước.
Thông qua thực hiện quyền tự do tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật nó thỏa
mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhưng nếu lợi dụng tự do tôn
giáo để chống phá, làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc thì đây là “việc làm tiêu cực, vừa thiếu thiện chí vừa
vi phạm pháp luật”.
Nam Lý
NHỮNG KẺ “BỊT MẶT” LỢI DỤNG MẠNG INTERNET LÀM TRÒ “ẢO THUẬT VỀ CHÍNH TRỊ” NHỮNG KẺ “BỊT MẶT” LỢI DỤNG MẠNG INTERNET LÀM TRÒ “ẢO THUẬT VỀ CHÍNH TRỊ”
Sự phát triển của khoa học công nghệ và mạng internet toàn
cầu là một thành tựu vượt bậc của nhân loại. Thành tựu đó với những tiện ích đã
và đang phục vụ thiết thực cho nhu cầu của con người, cho sự tiến bộ xã hội. Đó
là một sự thật mà không ai có thể phủ nhận được.
Tuy
nhiên, nếu như ai cũng khai thác những tiện ích của internet để trao đổi thông
tin, làm những việc tốt, tuyên truyền, quảng bá những điều hay để góp thêm cho
sự tiến bộ của xã hội thì chẳng có gì đáng bàn. Ngược lại, với bản chất không
thay đổi, các thế lực thù địch ở nước ngoài móc nối với bọn phản động trong
nước lúc thì công khai, lúc thì ngấm ngầm giấu mặt lợi dụng mạng xã hội để
chống phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu, vu khống cán bộ lãnh đạo hòng làm giảm lòng
tin, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, thổi phồng những mặt trái,
tiêu cực của xã hội…bằng những chiêu trò như: cắt dán, ghép ảnh (photo shop),
mượn hình, chèn nội dung với dụng ý xấu vào các văn bản, hoặc “dựng chuyện”,
“biến không thành có”, tô vẽ, phóng đại, làm sai lệch, méo mó, không đúng với bản
chất của những gì diễn ra trên thực tế rồi đem “cái bẩn thỉu ấy” đi nhân bản,
phát tán trên mạng internet để đánh lừa người xem, người đọc, người nghe theo
kiểu “mưa dầm thấm lâu”.
Trước
đây, chúng dùng báo chí, loa đài, truyền đơn để tuyên truyền, nói xấu… thì nay,
chúng triệt để lợi dụng mạng internet - mạng xã hội có tính chất lan truyền
nhanh, phổ cập rộng để làm những trò “ảo thuật về chính trị” nhằm chống phá,
gây rối dư luận. Thoạt nhìn, tưởng họ làm những việc “vô công, dồi nghề”, nhưng
thực ra, đó là hiện tượng thuộc bản chất của các thế lực thù địch để “đánh vào
tâm lý”, thị hiếu, nhu cầu của những người tò mò mà lại thiếu bản lĩnh nhất là những
người trẻ và từ cái xuyên tạc, bịt bợm ấy làm cho chuyện ngày càng loang ra
nhưng gốc gác của nó thì không phải như vậy mà chỉ là sản phẩm của sự “chế biến
công nghệ” của những kẻ “bịt mặt” làm trò quấy rối mà thôi!”. Cách làm này là
của các thế lực thù địch móc nối với những phần tử phản động - là “những con
ma” trên mạng xã hội thì dù thế nào cũng vẫn lộ rõ âm mưu thâm độc vào xảo
quyệt mặc dù đã “bịt mặt” làm những trò “ảo thuật về chính trị”!
Chúng ta hãy cảnh giác khi tiếp cận thông tin trên mạng
internet.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH KHOA HỌC HỒ CHÍ MINH THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII CỦA ĐẢNG
Niềm Tin
Tuy sinh ra ở một đất nước có nền sản xuất
nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhưng Hồ Chí Minh đã sớm tự xây dựng cho mình một phong
cách làm việc khoa học thực thụ. Điều này được thể hiện rất rõ ở việc biết quý
trọng thời gian và sắp xếp công việc hàng ngày đến từng buổi, từng giờ để giành
thời gian cho việc tự học của Người trong những năm tháng Người ra đi tìm đường
cứu nước, cứu dân. Sau này khi đã trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên
nghiệp, Người đã định hình được một phong cách khoa học trong công tác, trong
lãnh đạo trên những cương vị mà Người đảm nhiệm.
Phong cách khoa học
Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết
là ở đức tính trung thực, khách quan, khoa học với lòng nhiệt tình cách mạng. Theo
Hồ Chí Minh có nhiệt tình cách mạng, tâm huyết với nghề nghiệp thì mỗi cán bộ,
đảng viên mới đủ sức đảm đương tốt chức trách, nhiệm vụ vẻ vang của mình trước
Đảng, trước nhân dân. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng phải kết hợp với trung
thực, khách quan, khoa học giúp cho mỗi người tránh khỏi những sai lầm, hành
động chủ quan, tùy tiện. Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi khi xem xét và
quyết định mọi việc đều phải điều tra, nghiên cứu, phân tích toàn diện, phải
tôn trọng quy trình ra quyết định, tranh thủ
ý kiến của tập thể lãnh đạo và quần chúng Người chỉ rõ: “Gặp mỗi vấn đề, ta
phải đặt câu hỏi: vì sao có vấn đề này? xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao?
Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm
vậy”[1].
Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận rồi mới quyết định và thực hiện
đến nơi, đến chốn. Đặc biệt, đối với những vấn đề mới, phức tạp có ảnh hưởng
lớn tới tổ chức đảng, đơn vị, bộ đội và nhân dân, cần phải làm thử, làm điểm
trước khi quyết định. Tuyệt đối không ra quyết định khi chưa có thông tin đầy
đủ, chưa có phương án tính toán hiệu quả. Tránh chủ quan duy ý chí, che dấu
khuyết điểm để chạy theo thành tích.
Thứ hai, phong cách khoa học
Hồ Chí Minh thể hiện ở việc làm việc phải có mục đích rõ ràng, tập trung;
chương trình, kế hoạch đặt ra phải sát hợp. Người dạy cán bộ, đảng viên: “Đích
nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích
nào”. Theo đó, kế hoạch phải sát, thực; kế hoạch đặt ra để mình làm và mọi
người thực hiện chứ không phải để chiêm ngưỡng. Người phê phán một số cán bộ
lãnh đạo: “Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực. Đặt ra kế
hoạch và chương trình không xét rõ năng lực của những người thi hành kế hoạch
và chương trình đó. Thành thử việc gì cũng muốn làm mà việc gì cũng không triệt
để”[2].
Vì vậy, Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Kế hoạch một, biện pháp mười,
quyết tâm phải hai, ba mươi, muốn lãnh đạo đúng thì “phải tổ chức sự thi hành
đúng”[3].
Nếu chương trình kế hoạch có hay đến mấy, nhưng tổ chức thi hành không đúng,
thiếu biện pháp thích hợp, bản thân mình thiếu quyết tâm, hoặc không biến quyết
tâm của lãnh đạo thành quyết tâm của quần chúng, thì mọi chương trình, kế hoạch
đều không trở thành hiện thực. Do đó, theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên trong công việc,
trong mọi lúc mọi nơi, cần phải có sự thống nhất giữa nhận thức và hành động,
lời nói với việc làm. Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì
khác nào...“trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo
quần chúng, không thể làm cách mạng. Lời nói và việc làm của đảng viên rất quan
hệ đến sự nghiệp cách mạng, vì nó ảnh hưởng lớn đến quần chúng”[4]. Người
phê phán một số cán bộ, đảng viên chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ
khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được.
Phong cách khoa học đòi hỏi “lãnh đạo phải cụ
thể, phải kịp thời, phải thiết thực, phải có trọng điểm và nắm điển hình”, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu người
cán bộ, đảng viên không phải một ông quan suốt ngày ngồi bàn viết thông báo,
chỉ thị mà phải nhúng tay vào mọi việc để dìu dắt người khác, “phải chân đi,
mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ. Để thiết thực điều tra, giúp
đỡ, kiểm soát rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm giúp đỡ nông dân và hỏi han
dân”[5];
“cần phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể, phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời làm đến nơi đến chốn”. Người phê
phán bệnh hữu danh vô thực ở không ít cán bộ, đảng viên, ở lối làm việc không
thiết thực, không tự chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm nên; làm qua loa,
đại khái, làm cho có chuyện, làm ít suýt ra nhiều, báo cáo cho oai, cho có
thành tích là “có tội với Đảng” và “cũng là một bệnh rất nguy hiểm”[6].
Thứ ba, phong cách khoa học Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm
phải cụ
thể, sâu sát với công việc, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; giản dị, khiêm tốn, gắn
bó mật thiết với quần chúng, nêu gương và làm gương trước quần
chúng. Sâu
sát với công việc, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát có ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên và kết quả hoàn thành
nhiệm vụ của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hiện nay,
nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi
chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến
đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có tham gia hay không. Họ
quyên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông
cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”[7]. Đúng
với quan điểm của V.I.LêNin lãnh đạo mà không kiểm tra, có nghĩa là không lãnh
đạo.
Đức tính giản dị, khiêm tốn, gần gũi với quần
chúng của Hồ Chí Minh luôn được thể hiện trong lời nói, việc làm; ở nếp sống,
cách sinh hoạt; trong giải quyết các công việc, luôn thể hiện thái độ cầu thị, khiêm nhường, không cầu kỳ, quan cách, phô
trương hình thức, kịp thời giải quyết các nguyện vọng, đáp ứng các quyền lợi
chính đáng của quần chúng. Ở khía cạnh nêu gương và làm gương trước quần chúng, ngay từ những năm 1924 trong “Thư gửi đồng chí Pê Tơ Rốp, Tổng thư ký ban
phương Đông”, Hồ Chí Minh đã gửi tới những người cộng sản một thông điệp: “Một
tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[8]. Sau
này, trên cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước, Người căn dặn đội ngũ cán bộ,
đảng viên của Đảng: “Trước mặt quần chúng, không phải cứ viết lên trán chữ cộng
sản mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quí mến những người có tư cách đạo
đức”. Theo đó, sự mẫu mực về đạo đức, lối sống là phẩm chất quan trọng hàng đầu trong nhân cách của người cán bộ, đảng
viên. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu về mọi mặt, nêu gương
sáng về phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”;
trong cuộc sống không thu vén lợi ích cá nhân, không lấy của công làm của tư,
luôn chăm lo lợi ích cho quần chúng nhân dân. Với tinh thần: nhân dân chưa đủ cơm
ăn, chưa đủ áo mặc, chỗ ở tuềnh toàng thì cán bộ, đảng viên chưa hoàn thành
nhiệm vụ.
Trong điều kiện hiện nay, học tập và làm theo
phong cách khoa học Hồ Chí Minh, đó chính là nêu cao tính tiền phong gương mẫu
của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức vụ đứng đầu tổ chức
Đảng, tổ chức chính quyền. Đây cũng chính là một trong những giải pháp quan
trọng mà Nghị quyết Trung ương IV khóa XII của Đảng chỉ ra: “Hoàn thiện và thực
hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”[9].
Vì vậy, đòi hỏi trước hết ở đội ngũ cán bộ, đảng viên đứng đầu các cấp trong hệ
thống chính trị phải thật sự làm gương, nói làm gương, thực hành làm gương cả
trong suy nghĩ, cả trong tư tưởng, cả trong tình cảm, cả trong đời sống nội
tâm, cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và hành động làm gương đó phải
thực sự trở thành nhu cầu của sự hoàn thiện nhân cách, tức là làm gương phải
hoàn toàn tự giác. Tất cả những vấn đề trên, đòi hỏi sự cố gắng từ nhiều phía,
từ phía tổ chức Đảng, từ phía cán bộ, đảng viên, từ phía mỗi cá nhân cụ thể phải
có quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giáo dục, tiếp nhận phong cách làm việc của
Hồ Chí Minh mà đưa vào trong đời sống lãnh đạo của Đảng ta, đời sống của nhân
dân, đời sống của cán bộ, đảng viên để chúng ta học tập, thực hành làm theo.
[2]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.463.
[3]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.285.
[4]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.288.
[5]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 711.
[6]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.257.
[7]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.520-521.
[8]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.263.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH QUẦN CHÚNG HỒ CHÍ MINH THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII CỦA ĐẢNG
Phong cách quần chúng Hồ Chí Minh
là nội dung quan trọng hàng đầu trong phong cách làm việc của Hồ Chí Minh. Nó
được thể hiện bằng những hành động cụ thể như: Sâu sát quần chúng, chú ý tìm
hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, quan tâm đến mọi mặt đời sống của quần
chúng; Tin yêu và tôn trọng con người, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết
những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần
chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình; Giáo dục lãnh đạo quần chúng, đồng thời
không ngừng học hỏi quần chúng, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng theo
tinh thần lãnh đạo là đầy tớ của nhân dân, nhân dân làm chủ. Đặc biệt, tự mình
phải mực thước để xứng đáng với sự tin cậy của quần chúng nhân dân. Do đó,
trong thực tiễn, Hồ Chí Minh thường yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “từ nơi quần
chúng ra, trở lại nơi quần chúng. Người đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần
chúng, lên mặt “quan cách mạng”, “quan nhân dân”, không thấy mình là người đầy
tớ, người học trò của nhân dân. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên
phải thường xuyên thấu triệt và thực hiện quan điểm “dân là gốc”, mọi thắng lợi
đều “trên nền nhân dân” và chính Người là tấm gương mẫu mực về vấn đề này. Với
cương vị chủ tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, nhưng Hồ Chí Minh không xa cách với quần
chúng, Người luôn sâu sát với thực tiễn, gần gũi nhân dân, thấu hiểu và chia sẻ
mọi niềm vui, nỗi vất vả, nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân từ nông
dân, công nhân, bộ đội, phụ nữ, thanh niên, đến các cụ phụ lão, các cháu nhi
đồng. Sự gần gũi đó của Người được thể hiện ngay từ phút đầu tiên Người ra mắt
quốc dân đồng bào chiều mùng 2 tháng 9 năm 1945. Khi vừa đọc một đoạn Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Người đã dừng lại hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói rõ
không?”. Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi bình dị, tự nhiên mà thực sự đã
làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn quốc! “Cả muôn triệu một
lời đáp: Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông”. Đó là một điển hình mẫu mực về
mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ với quần chúng, ngay ở
những giây phút lịch sử trang trọng nhất.
Trong tư liệu thấy
rằng trong vòng 10 năm (1955 - 1965 tức là từ ngày hòa bình lập lại đến khi
chuẩn bị kháng chiến chống trả máy bay Mỹ đánh phá ở miền Bắc) Bác Hồ của chúng
ta thực hiện khoảng 700 cuộc đi đến các hợp tác xã, các bệnh viện, nhà máy, xí
nghiệp, các đơn vị bộ đội…, đi đến nơi nào dường như có khó khăn, vất vã, có
vấn đề, nơi nào nhân dân có trăn trở, lo âu. Như vậy, mỗi năm Bác có khoảng 70
cuộc đi, tính trung bình mỗi ngày Bác thực hiện từ 5 - 6 cuộc đi thăm làm việc
ở cơ sở (đây là một kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối với một lãnh tụ
ở tuổi cao). Cách đi của Bác là chuẩn bị rất kỹ để về nghe tiếng nói của nhân
dân, để nhân dân nói thật, nói đúng, để từ đó điều chỉnh chính sách, điều chỉnh
cách thức lãnh đạo, điều chỉnh mệnh lệnh quản lý để không trở nên giáo điều. Đi
thăm địa phương, cơ quan, đơn vị nào bao giờ Bác cũng đề nghị cơ quan tham mưu giúp
việc cho Bác nắm thật chắc công việc, đặc biệt là phát hiện những vấn đề khó
khăn ở địa phương, cơ quan, đơn vị đó. Bác chủ động tìm đến các địa chỉ, đến
người dân để tìm hiểu đời sống của nhân dân, để từ đó nghe được tiếng nói của
cuộc sống, từ đó mà nghĩ ra cách làm, nghĩ ra những quyết sách có lợi cho nhân dân
nhất.
Phong cách quần chúng Hồ Chí Minh còn được thể
hiện ở việc hết lòng, hết sức vì quần
chúng, vì nhân dân, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng của cá nhân vì lợi ích của
quần chúng của nhân dân. Đây là một đặc điểm có tính chất đặc trưng trong
phong cách quần chúng, phong cách nhân dân của Hồ Chí Minh. Trong Di chúc,
Người chỉ rõ: “Cả đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.
Theo Người đã coi trọng nhân dân thì phải biết hy sinh vì nhân dân. Chứ đánh
giá cao nhân dân nhưng mà đến với nhân dân chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân
mình, cái gì cũng cục bộ, địa phương, tự tư, tự lợi thì dân sẽ không nghe.
Nhiều nhà nghiên cứu khi bàn đến phong cách quần chúng, phong cách nhân dân Hồ
Chí Minh đã thống nhất theo ba lộ trình: Một
là, phải được dân tin; Hai là, phải
được dân nghe, dân theo; Ba là, dân sẵn
sàng thực hiện, thực hành mọi mệnh lệnh mà Đảng, Nhà nước ban ra (đây
là vấn đề quan trọng nhất), tức là nghe rồi, hiểu rồi bắt đầu thực hiện.
Bởi, theo Hồ Chí Minh dân thực hành trước hết là vì lợi ích của chính họ. Khi nói
chuyện với đồng bào tại Chiến khu Việt Bắc tháng 2 năm 1947 Bác Hồ nói: Đem tài
dân, sức dân, của dân làm lợi ích cho dân, đấy là một nội dung của tác phong
quần chúng. Phong cách quần chúng Hồ Chí Minh xét đến cùng đó là phong cách dân
vận, phong cách vận động quần chúng, để làm cho Dân tin Đảng, tin Nhà nước và để
làm cho Đảng, cho Nhà nước hiểu được những gì Dân đang cần. Vì vậy, xa rời quần
chúng, người cán bộ, đảng viên sẽ giống như cá bị tách ra khỏi nước, mất hết
khả năng và sức sống.
Thấu triệt những tinh
thần trên, trong điều kiện hiện nay chúng ta
phải xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy và phong cách
độc lập, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có bản lĩnh
chính trị vững vàng, biết đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích
của cá nhân mình. Điều này trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn luôn nói và thực hành. Đến nay, được Đảng ta xác định rõ ở mục
tiêu chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương IV khóa XII của Đảng, đó là: “Kiên
quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng
đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn,
thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc
lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố
niềm tin của nhân dân đối với Đảng”[1].
Theo đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thương yêu quần chúng, thấu
hiểu, chia sẻ với quần chúng, cùng làm với quần chúng, học hỏi quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần
chúng v.v.. Đây là những điều sống còn
nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ta hiện nay./.
Niềm Tin
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)