Thứ Hai, 30 tháng 9, 2019

Toàn văn bài phát biểu PTT Phạm Bình Minh tại Liên Hợp Quốc


Bài phát biểu của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại phiên thảo luận chung cấp cao khóa 74 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh ngày 28/09 đã có bài phát biểu với chủ đề “Tăng cường sức sống của chủ nghĩa đa phương vì hoà bình và phát triển bền vững” tại phiên thảo luận chung cấp cao khóa 74 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Tôi xin chúc mừng Ngài Tijjani Muhammad-Bande nhân dịp Ngài được bầu làm Chủ tịch Khóa 74 Đại hội đồng LHQ. Tôi tin tưởng rằng với bản lĩnh và bề dày kinh nghiệm, Ngài sẽ dẫn dắt Khóa họp của chúng ta thành công tốt đẹp.
Tôi cũng xin bày tỏ sự đánh giá cao về những nỗ lực đóng góp quan trọng của Bà Maria Fernanda Espinosa Garces, Chủ tịch Khóa 73 ĐHĐ LHQ cho công việc của Đại Hội đồng cũng như và về những nỗ lực và cống hiến của Tổng Thư ký Antonio Guterres trong thời gian qua.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Cách đây tám thập kỷ, Chiến tranh Thế giới lần thứ II, cuộc chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại, đã bùng nổ, cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người, tàn phá các nền kinh tế, chứng kiến những tội ác kinh hoàng, cùng sự ra đời của những loại vũ khí và phương tiện chiến tranh mới với sức hủy diệt to lớn.
Trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc đó, các quốc gia nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của một hệ thống an ninh tập thể dựa trên hợp tác đa phương và luật pháp quốc tế, lấy đó làm nền tảng cho trật tự thế giới mới hậu chiến tranh. Và thực tế đã chứng minh đây là lựa chọn đúng đắn.
Trong suốt ¾ thế kỷ qua, các cơ chế hợp tác đa phương, với trung tâm là LHQ, đã thực sự khẳng định vai trò tất yếu và không thể thiếu của mình. Các thể chế đa phương đã tạo ra cơ chế thảo luận, hoạch định chính sách chung cho các quốc gia trên các vấn đề quản trị toàn cầu – từ những chủ đề chung như hòa bình, an ninh, kinh tế, thương mại, phát triển, nhân quyền, tới những lĩnh vực cụ thể như hợp tác hàng hải, hàng không, bưu chính, viễn thông... Các diễn đàn đa phương, đặc biệt là LHQ, còn là nơi hình thành ý tưởng, xây dựng tiêu chuẩn và chiến lược nhằm điều phối nỗ lực của các quốc gia ứng phó với các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, xử lý các thách thức toàn cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Nhân loại sắp bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ 21. Chúng ta vui mừng trước những thành quả của các nỗ lực hòa bình ở các khu vực, từ Mali, Liberia đến Nam Sudan, Bờ Biển Ngà. Việt Nam hoan nghênh tất cả các nỗ lực đối thoại, giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình ở các khu vực, trong đó có đối thoại giữa CHDCND Triều Tiên và Mỹ.
Những nỗ lực toàn cầu cũng đã mang lại những thành quả to lớn về phát triển. Hàng trăm triệu người đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, giáo dục tiểu học đã được phổ cập ở nhiều quốc gia, tỉ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em giảm đáng kể. Chúng ta đã cùng nhau xây dựng được các chiến lược quan trọng, tạo khuôn khổ cho các nỗ lực phát triển toàn cầu, như Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, Chương trình hành động Addis Ababa về Tài chính cho phát triển, Thỏa thuận Paris về Biến đổi khí hậu…
Nhưng chủ nghĩa đa phương đang đứng trước những thách thức gay gắt hơn bao giờ hết. Các tiến trình đa phương ngày càng vấp phải nhiều khó khăn do xu hướng theo đuổi những lợi ích vị kỷ, lựa chọn sự áp đặt thay cho hợp tác, cạnh tranh, đối đầu thay vì đối thoại và phối hợp hành động, chính trị cường quyền thay vì theo đuổi những giá trị chung, tôn trọng luật pháp quốc tế. Cam kết chính trị và nguồn lực giảm sút đã ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của các nỗ lực đa phương toàn cầu.
Trong khi đó, thế giới ngày nay phải đối mặt với nhiều thách thức ở mức độ và tính chất khác hoàn toàn so với cách đây chỉ một vài thập kỷ. Những tác động trực tiếp và lâu dài của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnhảnh hưởng sâu sắc tới tất cả các quốc gia. Xung đột kéo dài ở nhiều khu vực nhất là ở Trung Đông, Châu Phi, cùng nhiều điểm nóng tiềm ẩn có thể bùng phát ở các nơi khác trên thế giới. Chiến trường không còn giới hạn trong những vùng chiến sự mà đã lan ra các thành phố, làng mạc, những khu vực tập trung đông dân cư. Nguy cơ phổ biến và sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt có nhiều diễn biến phức tạp, cơ chế quốc tế kiểm soát vũ khí, chống phổ biến bị rạn nứt rõ rệt. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đang tạo ra những phương thức và công cụ chiến tranh mới. Chi tiêu quốc phòng trên toàn cầu đang ở mức cao nhất, và như nhận định của Ngài Tổng Thư ký thì “chúng ta đang đứng bên bờ vực của một cuộc chiến tranh lạnh mới”.
Trong bối cảnh đó, chúng tôi hoan nghênh chủ đề được Ngài Chủ tịch đề ra cho Khóa họp năm nay là “Thúc đẩy các nỗ lực đa phương để xoá nghèo, thúc đẩy giáo dục chất lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bao trùm”.
Thưa Ngài Chủ tịch,
Hợp tác đa phương có vị trí đặc biệt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam gắn liền với sự tham gia của chúng tôi vào các thể chế đa phương khu vực và quốc tế. Sự hỗ trợ, ủng hộ của các cơ quan LHQ, các tổ chức quốc tế đã giúp Việt Nam tái thiết và phát triển đất nước sau hàng thập kỷ chiến tranh, xây dựng khuôn khổ pháp luật, chính sách, đẩy mạnh hội nhập, đem lại những thành quả to lớn về phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện các mục tiêu phát triển toàn cầu. LHQ và các thể chế đa phương cũng là những diễn đàn chính trị, khuôn khổ pháp lý quan trọng để Việt Nam thúc đẩy quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam tham gia chủ động, tích cực và có nhiều đóng góp xây dựng, trách nhiệm trong các tiến trình đa phương. Cùng với các quốc gia ASEAN, Việt Nam đang nỗ lực tăng cường vai trò trung tâm của Hiệp hội trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tăng cường phát triển, thịnh vượng trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương.
Trong khuôn khổ LHQ, các chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình, những nhà ngoại giao, các chuyên gia Việt Nam tham gia đóng góp xây dựng các nghị trình và chính sách của LHQ về phát triển bền vững, về biển và đại dương, về phát triển xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, và đặc biệt là đã có những bước đi cụ thể tiến tới chấm dứt việc sử dụng đồ nhựa dùng một lần vào năm 2025.
Vừa qua, Việt Nam vinh dự lần thứ hai được bầu làm ủy viên không thường trực HĐBA LHQ. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của Chính phủ và nhân dân Việt Nam tới quý vị vì sự tín nhiệm và tin tưởng một lần nữa dành cho Việt Nam với trọng trách này. Là thành viên HĐBA, chúng tôi sẽ nỗ lực hết mình, hợp tác với các thành viên LHQ vì hòa bình và phát triển bền vững.
Trước những thách thức to lớn hiện nay, chúng ta cần cùng nhau tăng cường sức sống của chủ nghĩa đa phương và thúc đẩy hoạt động của Liên hợp quốc. Trên tinh thần đó tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ về những giải pháp lớn nhằm đạt mục tiêu đó..
Trước hết, cần tái khẳng định vai trò và tầm quan trọng của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ trong việc xây dựng một trật tự thế giới dựa trên luật lệ, thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia và tăng cường hợp tác đa phương. Luật pháp quốc tế là nền tảng của quan hệ bình đẳng, công bằng giữa các quốc gia; bởi vậy, các nỗ lực đa phương cần dựa trên và hướng tới đảm bảo sự tôn trọng đối với nền tảng này.
Việt Nam cho rằng tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Việt Nam ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hoà giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế.
Chúng tôi kêu gọi việc dỡ bỏ ngay lập tức các lệnh cấm vận đơn phương, trái với luật pháp quốc tế, đang được áp đặt đối với Cuba.
Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan ở Biển Đông tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) – “Hiến chương của Biển và Đại dương”. Kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Biển Đông có ý nghĩa chiến lược đối với hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới. Nhận thức rõ điều đó, các quốc gia liên quan đã có nhiều nỗ lực, đạt được những kết quả tích cực về giải quyết bất đồng, tranh chấp. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã nhiều lần nêu rõ sự lo ngại về những diễn biến phức tạp ở Biển Đông, trong đó có việc vi phạm các quyền chủ quyền, quyền tài phán tại các vùng biển của Việt Nam được xác định theo UNCLOS 1982. Các bên liên quan cần kiềm chế và tránh có những hành động đơn phương làm phức tạp tình hình và gia tăng căng thẳng, và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.
Thứ hai, cần tăng cường kết nối giữa chủ nghĩa đa phương ở cấp độ toàn cầu và khu vực. Các hành động quốc tế chỉ có thể hiệu quả khi phù hợp với đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, địa lý của từng khu vực, quốc gia cụ thể. Bởi vậy, các tổ chức khu vực có thể phát huy vai trò định hướng quan trọng, đồng thời bổ trợ hiệu quả cho các nỗ lực chung của LHQ. Việt Nam hoan nghênh hợp tác, phối hợp giữa LHQ, nhất là HĐBA, với Liên minh châu Phi, Liên minh châu Âu và Liên đoàn Ả-rập trong nỗ lực ứng phó với các thách thức an ninh ở châu Phi, Trung Đông.
Ở khu vực Đông Nam Á, ASEAN là một thể chế khu vực được xây dựng trên cơ sở “cam kết và trách nhiệm tập thể nhằm tăng cường hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực”. Sau hơn nửa thế kỷ phát triển, ASEAN giờ đây là hiện thân của hoài bão lớn của các chính phủ và người dân trong khu vực về một Cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế và cùng chia sẻ các trách nhiệm xã hội. ASEAN cũng đã khẳng định vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực dựa trên luật lệ, tạo dựng các diễn đàn để các quốc gia trong và ngoài khu vực cùng trao đổi, thúc đẩy hợp tác vì phát triển bền vững, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Là ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, đồng thời là Chủ tịch ASEAN năm 2020, Việt Nam mong muốn cùng các quốc gia thành viên tăng cường sự phối hợp, bổ trợ lẫn nhau giữa HĐBA với các tổ chức khu vực để cùng đóng góp vào nỗ lực chung ngăn ngừa xung đột, xây dựng hòa bình bền vững.
Thứ ba, các nỗ lực đa phương cần coi con người là trung tâm. Hòa bình bền vững là điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững và chỉ có thể đạt được khi người dân được đảm bảo cơ bản về điều kiện sống, về an toàn, an ninh. Việt Nam lên án các hành động tấn công dân thường cũng như những cơ sở hạ tầng thiết yếu cho cuộc sống của người dân. Việt Nam ủng hộ và sẽ tiếp tục đóng góp vào nỗ lực thúc đẩy chương trình nghị sự của LHQ về phụ nữ, hoà bình và an ninh, trẻ em trong xung đột vũ trang. Việt Nam ủng hộ Tuyên bố Trường học an toàn, cùng nỗ lực bảo đảm quyền giáo dục của trẻ em trong mọi hoàn cảnh. Chúng tôi cũng sẽ ưu tiên thúc đẩy các nỗ lực tái thiết hậu xung đột, nhất là khắc phục hậu quả bom mìn, phục vụ người dân và quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở các quốc gia.
Thứ tư, các thể chế đa phương cần tiếp tục được cải tổ mạnh mẽ để đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra, phục vụ tốt hơn lợi ích và tăng cường tiếng nói và đóng góp của các quốc gia thành viên, nhất là các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Việt Nam hoan nghênh những nỗ lực cải tổ hệ thống phát triển LHQ để tăng cường phối hợp và hiệu quả hoạt động, đồng thời cần tăng cường tính làm chủ của mỗi quốc gia trong quá trình hợp tác, trong khi huy động sự tham gia đóng góp của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội và cộng đồng người dân. Việt Nam sẽ cùng các thành viên HĐBA đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách phương pháp làm việc của HĐBA theo hướng tăng cường minh bạch, dân chủ và hiệu quả.
Và cuối cùng, thưa Ngài Chủ tịch, cam kết chính trị mạnh mẽ của mỗi chính phủ, mỗi nhà lãnh đạo có ý nghĩa then chốt đối với mọi nỗ lực tăng cường chủ nghĩa đa phương. LHQ hay các thể chế đa phương chỉ có thể mạnh và hiệu quả, giúp xử lý các thách thức toàn cầu, nếu từng quốc gia thành viên vượt qua những lợi ích riêng, hướng tới các lợi ích chung rộng lớn hơn của cộng đồng quốc tế, cam kết và thực sự đầu tư ý chí và nguồn lực cho những nỗ lực chung đó. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể viết nên một trang mới trong lịch sử nhân loại với những đường nét tươi sáng hơn, những đường nét của đối thoại và hợp tác, và trên hết là của hòa bình và phát triển bền vững.
Xin cảm ơn./.

CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH, GÂY RỐI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Trên mạng xã hội, Dễ thấy nhất là các tài khoản Facebook cá nhân xuất hiện dày đặc những tin nhắn, đoạn video clip với các hình ảnh xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội; hình thành một số hội nhóm mời mọi người tham gia biểu tình phản đối trên phạm vi cả nước.
Các đối tượng sử dụng hình thức đăng lời kêu gọi, kích động biểu tình một cách công khai trên các tài khoản cá nhân, các Fanpage và các nhóm Facebook, Zalo của cá nhân, tổ chức phản động và phần tử xấu; thông qua hệ thống tin nhắn, sử dụng các phần mềm phát lại các video cũ dưới dạng “trực tiếp” để đánh lừa cộng đồng mạng, làm cho cộng đồng mạng nhầm tưởng đang có biểu tình, đang có xuống đường nhưng thực chất là video cũ. Viết lời kêu gọi biểu tình lên các tờ tiền có mệnh giá thấp từ 1.000 đến 5.000 đồng, để tán phát, lan truyền thông tin tới cả những người không dùng mạng xã hội.
Có thể thấy, đây là một hành động hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Còn nhớ, năm 2014, từ sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam, lợi dụng tinh thần yêu nước, chúng đã kích động nhân dân nhiều địa phương xuống đường diễu hành, biểu tình, gây rối.
Qua đó, chúng đã lôi kéo được nhiều người gây rối trật tự xã hội tại một số nơi và làm chúng ta ảnh hưởng về đối ngoại, thiệt hại không nhỏ về kinh tế, do nhiều doanh nghiệp người nước ngoài bị hư hỏng tài sản hoặc ngừng sản xuất nhiều ngày. Cũng vẫn thủ đoạn cũ năm 2014, các thế lực thù địch, phản động đang tích cực áp dụng để xuyên tạc dự thảo “Luật Ðơn vị hành chính kinh tế đặc biệt” (đặc khu kinh tế) của Việt Nam.
Thật đáng buồn, không ít người trong xã hội - nhất là nhiều bạn trẻ chưa nhận thức đúng đắn, vẫn nhẹ dạ, tin theo những lời xuyên tạc dụ dỗ của các phần tử phản động. Có người còn đồng tình, đăng tải, “câu like” bằng nội dung xuyên tạc, kêu gọi tham gia biểu tình của chúng cho bạn bè của mình. Bởi, họ không hiểu rằng, bè lũ bán nước chỉ mong trong nước chúng ta xảy ra các sự kiện phức tạp chính trị, xã hội để kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ chế độ.
Thực tế hiện nay, có quốc gia, Việt Nam đang thiết lập mối quan hệ hợp tác, đối tác toàn diện, song cũng quốc gia ấy, nếu “khi nào, ở đâu, việc gì đó” mà có ý đồ xâm phạm lợi ích quốc gia, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam thì khi đó, ở đó, việc đó đã có sự chuyển hoá thành đối tượng tác chiến của quân đội ta.
Mặt khác, cần hiểu thêm rằng, các thế lực thù địch, tổ chức phản động trong nước luôn có sự câu kết, móc nối với các thế lực thù địch, tổ chức phản động ở nước ngoài để phát triển lực lượng và phối hợp hành động, tạo thanh thế, viện trợ tài chính và bảo vệ lẫn nhau.
Nếu có các phần tử kích động, gây rối ở trong nước bị cơ quan chức năng bắt, xử lý theo pháp luật thì ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước liền la lối Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến…
Ngoài ra, cùng với kích động xuống đường biểu tình, trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết của những phần tử phản động xuyên tạc tính xác thực của vụ việc; phê phán cơ quan chức năng và báo chí của trung ương, địa phương bưng bít thông tin, chỉ bảo vệ quan điểm của một nhóm lãnh đạo có lợi ích nhóm, không đứng về lợi ích, nguyện vọng của người dân.
Mỗi người dân cần tỉnh táo và bình tĩnh suy xét, có cách bộc lộ quan điểm đúng mực, khách quan, ủng hộ chính sách phát triển kinh tế đúng đắn của Ðảng, Nhà nước ta. Ðồng thời kêu gọi bạn bè, gia đình không tham gia các hoạt động biểu tình, bạo loạn theo sự dụ dỗ của các thế lực thù địch.
Kiên quyết đấu tranh, vạch trần âm mưu kích động biểu tình, gây rối an ninh, trật tự để chống phá Ðảng, Nhà nước, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân; góp phần làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", "bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.
(C) Tây Ninh Online

Xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương và tác động đến Việt Nam


Ảnh minh họa - Nguồn: tuyengiao.vn
Các xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương
Trong chính trị quốc tế, tập hợp lực lượng là hình thức phối hợp các hoạt động, xác lập các mối liên hệ, liên minh, liên kết trên các lĩnh vực giữa các chủ thể quốc tế chính nhằm đạt được một mục đích cụ thể (như giải quyết một “điểm nóng”, một mâu thuẫn chung; bảo vệ lợi ích quốc gia; tăng cường sức mạnh; tăng lợi thế cạnh tranh; áp đảo đối phương...).
Trong bối cảnh hiện nay tại châu Á - Thái Bình Dương, so sánh lực lượng thay đổi mạnh mẽ. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, đều chú trọng điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường mở rộng quan hệ nhằm phát huy ảnh hưởng, tranh giành lợi ích về mọi mặt và tạo lập một vị thế có lợi nhất trong cục diện an ninh khu vực đang dần định hình. Các cách thức tập hợp lực lượng hiện nay rất đa dạng, linh hoạt và cơ động hơn, tùy theo từng vấn đề, từng thời điểm trong quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Yếu tố ý thức hệ tư tưởng không còn đóng vai trò chủ đạo như trước đây, đồng thời cũng không còn là sự trở ngại không thể vượt qua trong quan hệ giữa các nước. Lợi ích quốc gia - dân tộc có vị trí nổi trội, quy định mục tiêu, nội dung, phương châm đối ngoại và cách thức tập hợp lực lượng của mỗi nước, mỗi tổ chức quốc tế và khu vực. Mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ, đều xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc để thể hiện quan điểm, thái độ riêng đối với các vấn đề quốc tế. Sự tập hợp lực lượng trên bàn cờ quốc tế không theo chiều dọc với cơ sở là hệ tư tưởng, mà là sự tập hợp đan xen, đa dạng, linh hoạt với mẫu số chung là sự trùng hợp lợi ích quốc gia trong từng thời điểm lịch sử nhất định, theo địa bàn, trong đó các nước vừa hợp tác, vừa cạnh tranh lẫn nhau.
Với khuôn khổ quan hệ nêu trên, các nước lớn và quan hệ giữa các nước này luôn đóng vai trò chủ đạo, chi phối các mối quan hệ quốc tế cùng quá trình hình thành và cơ chế vận hành của các tập hợp lực lượng quốc tế, hướng tới hình thành trật tự thế giới mới. Sự tập hợp lực lượng hiện nay của các nước lớn diễn ra ở cả hai cấp độ: giữa các nước lớn với nhau và giữa các nước lớn với các nước nhỏ. Nhìn tổng quát, sự tập hợp lực lượng giữa các nước lớn thể hiện ở các dạng sau: Một là, Mỹ dùng mối quan hệ với từng cường quốc để hạn chế sự phát triển của các nước này. Hai là, các cường quốc quan hệ với Mỹ để hạn chế sự vươn lên của các cường quốc khác. Ba là, các cường quốc tập hợp với nhau để chống siêu cường Mỹ. Sự tập hợp lực lượng giữa các nước lớn như vậy được dựa trên lý thuyết về cân bằng quyền lực: dùng mối quan hệ với một nước để tạo thêm sức mạnh trong quan hệ với các nước khác.
Nhìn tổng thể, có thể thấy hai cơ sở khách quan của việc hình thành những liên kết, tập hợp lực lượng mới ở châu Á - Thái Bình Dương. Thứ nhất, sự trùng hợp về lợi ích trong việc giải quyết các vấn đề của thế giới. Thứ hai, sự gần gũi về địa lý, dân tộc, tôn giáo, lịch sử... Những cơ sở này quy định các xu hướng, các hình thức tập hợp lực lượng rất đa dạng, phong phú, không bất biến, mà luôn vận động, thay đổi, thể hiện sự phức tạp của quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế tại châu Á - Thái Bình Dương.
Xu hướng tập hợp lực lượng dựa trên sự trùng hợp về lợi ích
Xu hướng này mang tính phổ biến và xuyên suốt trong quan hệ quốc tế qua các giai đoạn lịch sử. Nhưng nét mới của xu hướng này ở châu Á - Thái Bình Dương là có sự tham gia của các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trong các tổ chức, các liên kết nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích của các quốc gia. Những lợi ích đó có thể mang tính tổng thể (cùng giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu...), hoặc chỉ mang tính bộ phận (lợi ích chính trị, lợi ích kinh tế, lợi ích an ninh, lợi ích phát triển...). Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) và quá trình toàn cầu hóa đã và đang tác động đến lợi ích nhiều mặt của các quốc gia. Xu thế phát triển của trật tự thế giới trong tương lai là tiến tới một hệ thống đa cực, bởi lẽ trên bình diện toàn cầu, một quốc gia, dù là siêu cường, cũng không thể có khả năng kiểm soát thực tế toàn bộ các lĩnh vực của đời sống quốc tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hóa 4.0 khiến không một quốc gia nào đủ khả năng thiết lập một trật tự đơn cực mà phải hợp tác với các cường quốc khác và các tổ chức quốc tế.
Nhìn tổng thể, những điều chỉnh trong chính sách của Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm từ sau khi lên cầm quyền đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và thế giới nói chung không thực sự đem lại kết quả như mong muốn. Nhưng, với quan điểm “nước Mỹ trên hết”, chính sách của Tổng thống Đ.  Trăm không chỉ đơn thuần nhằm phục vụ lợi ích trong nước Mỹ, mà còn được mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Đặc biệt hơn là cách tiếp cận mới theo hướng điều gì có lợi cho Mỹ thì thực hiện. Tổng thống Đ. Trăm không theo quy tắc của người tiền nhiệm là “vừa bước, vừa thăm dò”, mà lựa chọn cách khác, theo hướng có chọn lọc, trọng điểm, tập trung vào các đồng minh và những đối tác quan trọng với Mỹ. Đó là: quan hệ Mỹ - Nhật Bản, Mỹ  - Hàn Quốc và Mỹ - Ô-xtrây-li-a, Mỹ - Đài Bắc Trung Hoa, những nước và vùng lãnh thổ có vai trò quan trọng đối với Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời thể hiện sự kiên nhẫn và quan tâm với các đồng minh truyền thống khác, như Phi-líp-pin và Thái Lan.
Có thể nhận thấy một loạt thỏa thuận chiến lược, kinh tế, kết cấu hạ tầng mà Mỹ thiết lập với các đồng minh nhằm đẩy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ví dụ, Mỹ đưa ra một số sáng kiến kinh tế, sáng kiến kết nối kỹ thuật số và đối tác an ninh (25 triệu USD), sáng kiến thúc đẩy phát triển và tăng trưởng thông qua năng lượng (50 triệu USD), sáng kiến minh bạch Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (400 triệu USD)(1).
Xu hướng tập hợp lực lượng trên cơ sở sự trùng hợp về lợi ích cũng dẫn đến tình trạng một quốc gia hoặc một tập hợp các quốc gia tiến hành áp đặt quốc gia khác, bất chấp những chuẩn mực và nguyên tắc của luật pháp quốc tế, dẫn tới các cơ chế an ninh tập thể vì thế mà bị suy giảm tác dụng nhiều so với trước. Tiền lệ này trở thành một mối đe dọa đối với không ít quốc gia và để đối phó, họ sẽ tìm kiếm những hình thức và mức độ tập hợp lực lượng mới, co cụm mới, thậm chí tiến hành chạy đua vũ trang. Ví dụ, sự liên kết, liên minh đa phương đã và đang được hình thành ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mặt, nhằm thích nghi với những chuyển động mới của khu vực. (Liên kết Nhật Bản - Phi-líp-pin - Ô-xtrây-li-a được đẩy mạnh nhằm thực hiện những tính toán riêng của các nước này. Liên kết đa phương Nhật Bản - Ấn Độ - Ô-xtrây-li-a nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mỗi nước và đối phó với khả năng thỏa hiệp giữa các nước lớn khác); mặt khác, còn nhắm đến việc xây dựng sức mạnh tổng hợp cùng năng lực chung, cùng nhau đối phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên tại khu vực.
Xu hướng tập hợp lực lượng dựa trên cơ sở gần gũi về địa lý, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, dân tộc
Không gian châu Á - Thái Bình Dương được mở rộng hơn qua chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” do Tổng thống Mỹ Đ. Trăm công bố tại Hội nghị Diễn đàn cấp cao châu Á - Thái Bình Dương được tổ chức tại Việt Nam hồi tháng 12-2017. Theo đó, các nước trong không gian này có vị trí địa lý gần gũi, tuy khác nhau về thể chế chính trị, về trình độ phát triển kinh tế, về văn hóa, tôn giáo... nhưng đều có một nhu cầu chung là hợp tác để tăng cường thế và lực của mình ở khu vực cũng như trên trường quốc tế. Khác với trước đây, việc liên kết, tập hợp lực lượng dựa trên cơ sở gần gũi về địa lý, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, dân tộc ở châu Á - Thái Bình Dương hiện nay mang tính “mở” hơn, toàn diện và đa dạng về hình thái lẫn thành phần. Thứ nhất, mở rộng số lượng thành viên của các tổ chức và diễn đàn hợp tác khu vực. Trường hợp của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) hay Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) là những minh chứng. Thứ hai, sự đa dạng về thể chế chính trị và trình độ phát triển của các thành viên tham gia tổ chức khu vực. Cộng đồng ASEAN, “Hiệp ước đối tác chiến lược cho thế kỷ XXI” giữa Nga và Trung Quốc, Diễn đàn Sang-gri La (Hội nghị Thượng đỉnh an ninh châu Á)... là những ví dụ. Thứ ba, sự mở rộng hợp tác, liên kết giữa các tổ chức khu vực với nhau, hình thành khái niệm về sự hợp tác liên khu vực. Các tổ chức khu vực không chỉ giới hạn sự hợp tác, liên kết kinh tế của mình trong nội bộ khu vực mà còn mở rộng hợp tác kinh tế với các khu vực khác hoặc các tổ chức, diễn đàn mang tính liên khu vực, như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu (ASEM)... Thứ tư, hiện tượng một quốc gia có thể đồng thời là thành viên của vài tổ chức hợp tác kinh tế khu vực khác nhau. Trường hợp có những nước vừa tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), vừa tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là những ví dụ.
Các liên kết, tập hợp lực lượng dựa trên cơ sở gần gũi về truyền thống lịch sử, văn hóa, tôn giáo còn là xu hướng lâu dài nhất trong các liên kết, liên minh. Các liên kết này dựa trên cơ sở khách quan là sự gần gũi giữa các dân tộc về mặt tôn giáo, như Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) là nơi tập hợp của các quốc gia và các dân tộc theo đạo Hồi trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên toàn thế giới; việc tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak trong các năm vừa qua tại khu vực; hay sự tương đồng về văn hóa và ngôn ngữ trong Cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie)... Hiện nay, các tập hợp lực lượng này cũng bắt đầu có xu hướng mở rộng sang các lĩnh vực khác, như chính trị, kinh tế, an ninh...
Tác động từ sự tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương đối với Việt Nam
Xu hướng tập hợp lực lượng mới với sự vận động và những điều chỉnh tương quan lực lượng giữa các chủ thể quốc tế lớn tại khu vực, tác động mạnh đến quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam theo cả hai chiều thuận lợi và khó khăn.
Về thuận lợi:
Một là, tạo môi trường khu vực hòa bình, hợp tác, thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Tập hợp lực lượng của các nước lớn tại khu vực nhằm tăng cường sức mạnh của họ trong cạnh tranh, nhưng sẽ dẫn tới cục diện cân bằng sức mạnh và hòa bình, ổn định tương đối trong khu vực. Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế, đồng thời tác động sâu sắc đến chính sách đối ngoại của các quốc gia. An ninh của mỗi quốc gia ngày nay được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia trong hội nhập quốc tế. Tất cả các quốc gia đều thi hành chính sách linh hoạt, mềm dẻo, tăng cường hợp tác, tránh đối đầu và chiến tranh, giải quyết mọi bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, ở khu vực xung đột cục bộ, tiềm ẩn những bất ổn có thể bùng phát thành chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra, nhưng những xung đột này khó có khả năng lan rộng, lôi cuốn sự đối đầu trực tiếp của các nước lớn, vì họ đều có lợi ích lâu dài và cơ bản trong việc duy trì hòa bình để bảo vệ lợi ích cốt lõi và phát triển. Điều này có lợi cho Việt Nam khi thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, tiến tới sự cân bằng quan hệ với các nước lớn. Hơn nữa, xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực sẽ là môi trường thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế, đối thoại quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Hai là, tạo cơ hội mở rộng hợp tác, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
Trong bối cảnh Mỹ tăng cường tập hợp lực lượng nhằm khẳng định vị thế của mình, các nước đồng minh của Mỹ cũng có thêm vị thế mới, họ vừa tìm cách dàn xếp với Mỹ, vừa tìm kiếm những tập hợp lực lượng khác có lợi cho mình. Sự tập hợp lực lượng của các nước lớn và đồng minh vô hình chung giúp các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, nâng cao vị thế, tạo cơ hội liên kết, hợp tác mới trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Điều này tạo ra những thuận lợi rất căn bản cho Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Chúng ta có nhiều thuận lợi trong thiết lập, xây dựng các mối quan hệ song phương, đa phương, mạnh mẽ, gắn kết, tin cậy và cùng có lợi với các quốc gia, tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn cùng chia sẻ lợi ích. Việt Nam cũng có thêm nhiều sự lựa chọn để tránh không rơi vào tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào một quốc gia trong bảo vệ an ninh, quốc phòng của mình; có thêm cơ hội thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, xây dựng và phát huy vai trò của mình trong Cộng đồng ASEAN, nâng cao vị thế trong bối cảnh đa dạng hình thức tập hợp lực lượng và gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay.
Ba là, tạo thuận lợi cho Việt Nam giảm thiểu sức ép của các nước lớn, đấu tranh có hiệu quả hơn với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
Trong bối cảnh các nước lớn điều chỉnh chính sách, quan tâm hơn đối với khu vực, Việt Nam có điều kiện phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các cường quốc, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư. Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, có quan hệ sâu rộng với tất cả các nước lớn, Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước lớn. Điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, giảm thiểu sức ép của các nước lớn đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam có thể thúc đẩy mạnh hơn quan hệ hợp tác trong các vấn đề địa  - chiến lược để kiềm chế, đẩy lùi âm mưu, hành động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tự do tôn giáo nhằm can thiệp công việc nội bộ, chống phá Việt Nam.
Về khó khăn:
Một là, những khó khăn mới sẽ nảy sinh, cản trở phát triển kinh tế của Việt Nam.
Để phát triển bền vững, Việt Nam thực hiện chủ trương cấu trúc lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, kiềm chế, kiểm soát lạm phát, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong bối cảnh xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng ngay tại các thị trường xuất khẩu chính và có lợi, nhất là Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra quyết liệt,... đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra những khó khăn, thách thức mới đối với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của Việt Nam.
Hai là, những khó khăn trong giữ vững ổn định chính trị và bảo vệ chế độ.
Các biến động của tình hình thế giới và khu vực; sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn tạo thêm áp lực và một số khó khăn, phức tạp mới đối với nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của trào lưu dân túy trên thế giới khuyến khích và tạo cơ hội cho những phần tử lợi dụng chiêu bài “chính danh, chính nghĩa” để thực hiện các ý đồ chống Đảng, chống chế độ, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu, hành động “diễn biến hòa bình” và hoạt động can thiệp, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm thay đổi chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, núp dưới các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... với nhiều biện pháp tinh vi, xảo quyệt. Thời đại công nghệ thông tin, mạng xã hội và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ,... khiến các thế lực thù địch có thêm công cụ kích động, can thiệp sâu công việc nội bộ của Việt Nam.
Ba là, những thách thức, phức tạp mới trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và nguy cơ xung đột tại các “điểm nóng” tiềm tàng, tác động trực tiếp, gián tiếp đến môi trường an ninh của Việt Nam. Các nước ASEAN có mục tiêu chung là xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, song mỗi nước có lợi thế và lợi ích riêng, nên việc củng cố đoàn kết, hợp tác nội khối về những vấn đề chính trị nhạy cảm rất phức tạp, khó khăn, nhất là giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo gặp khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải tính toán kỹ và xử lý đúng đắn các mối quan hệ với các nhân tố, như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản và ASEAN.
Tóm lại, những xu hướng tập hợp lực lượng mới cùng sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại châu Á - Thái Bình Dương tác động mạnh mẽ tới môi trường hòa bình, an ninh, phát triển của Việt Nam. Chưa bao giờ Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội to lớn như hiện nay và cũng chưa bao giờ môi trường an ninh của Việt Nam lại chịu sự tác động, thách thức từ nhiều vấn đề phức tạp, đa chiều, đa hướng như bây giờ. Cơ hội và thách thức đan xen với nhau, nếu không kịp thời tranh thủ, cơ hội sẽ biến thành thách thức; nếu “hóa giải” thành công, thách thức sẽ chuyển thành cơ hội cho đất nước phát triển. Đồng thời, chúng ta phải xây dựng được các mối quan hệ song phương, đa phương, gắn kết, tin cậy và cùng có lợi với các quốc gia khác, tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn và cộng đồng quốc tế, phải biết dựa vào các tổ chức đa phương khu vực, quốc tế, dựa vào luật pháp quốc tế và những nguyên tắc phổ quát của mối quan hệ giữa các quốc gia được quốc tế thừa nhận để đối phó với những khó khăn, thách thức.
Hoạt động ngoại giao của Việt Nam trong thời gian qua được đẩy mạnh trên cả bình diện song phương và đa phương. Việt Nam đã có những lựa chọn đúng đắn trong hội nhập quốc tế, có những đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn kết của ASEAN, cùng các nước ASEAN duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực. Đặc biệt, với vai trò chủ nhà của Hội nghị Cấp cao APEC 2017, đăng cai tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN, Việt Nam đã chủ động đưa ra các nghị trình, vấn đề thảo luận phù hợp với lợi ích của các nền kinh tế thành viên. Thành công trên cho thấy tầm nhìn chiến lược đối ngoại và “phương cách Việt Nam” có thể góp phần hóa giải các bất đồng, thách thức của thời cuộc, đem lại triển vọng hòa bình, ổn định và phát triển năng động cho khu vực và đất nước./.
---------------------------------------------------
(1) Kong Anh: “Sáng kiến “Tầm nhìn Kinh tế Ấn Độ  - Thái Bình Dương” và tham vọng của Mỹ” http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Sang-kien-Tam-nhin-Kinh-te-An-Do-Thai-Binh-Duong-va-tham-vong-cua-My-505250/
Thái Văn Long (*), Thái Thanh Phong (**)(*) PGS, TS, Phó Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (**) Thành đoàn Hà Nội

Liệu xung đột văn hóa có thay thế cho đấu tranh giai cấp?


Ảnh minh họa - Nguồn: antg.cand.com.vn
1- Trong vài chục năm qua, trên thế giới đã có những nghiên cứu về sự va chạm, sự xung đột văn hóa ở những vùng, những khu vực thuộc các nền văn minh khác nhau hoặc các chế độ xã hội khác nhau, nhưng có lẽ một trong những người đã bỏ ra nhiều công sức để phân tích sự va chạm hay sự xung đột giữa các nền văn hóa và văn minh ấy chính là Xa-mu-en Phi-líp Hăn-tinh-tơn (Samuel Phillips Huntington) - nhà nghiên cứu chính trị và chiến lược người Mỹ, đã từng là Chủ tịch Hội Khoa học chính trị Mỹ, trong các bài báo Sự va chạm giữa các nền văn minh và Nếu không phải là các nền văn minh thì là cái gì? (Tạp chí Foreign Affairs, 1993) và tập trung nhất là trong công trình Sự va chạm của các nền văn minh(1) (năm 1996).
Quan niệm của X.Ph. Hăn-tinh-tơn về khái niệm văn hóa được trình bày trong công trình Sự va chạm của các nền văn minh này dường như đồng nhất với khái niệm văn minh. Hoặc theo ông, cơ sở của sự đụng độ, sự xung đột giữa các nền văn minh chính là văn hóa. Cần ghi nhận rằng, trong công trình này, X.Ph. Hăn-tinh-tơn đã đưa ra một số cảnh báo cần phải được lưu tâm về hậu quả xã hội của sự va chạm, sự đụng độ hay mạnh hơn là sự xung đột do những sự khác biệt, những mâu thuẫn trong văn hóa gây nên.
Tuy nhiên, một trong những điều cần phải nói đến ở công trình Sự va chạm của các nền văn minh của X.Ph. Hăn-tinh-tơn là ông coi nguồn gốc của các xung đột trên thế giới từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc trở đi sẽ không còn là hệ tư tưởng, cũng không còn là nguyên nhân kinh tế mà nguồn gốc quan trọng nhất chia rẽ các dân tộc, các quốc gia sẽ là các xung đột về văn hóa. X.Ph. Hăn-tinh-tơn viết: “Trong thế giới này, các cuộc xung đột dữ dội, quan trọng và nguy hiểm nhất không phải giữa các tầng lớp xã hội, giữa giàu và nghèo mà [là] giữa các dân tộc thuộc về các chính thể văn hóa khác nhau”(2).
Quan điểm trên đây của X.Ph. Hăn-tinh-tơn giống quan điểm của Va-clap Ha-ven (Vaclav Havel)(3)  và  Giắc-cơ  Đờ-lo  (Jacques  Delors)(4). Theo V. Ha-ven, xung đột văn hóa ngày càng tăng và chưa khi nào trong lịch sử nó nguy hiểm như ngày nay. Quan điểm trên của X.Ph. Hăn-tinh-tơn càng giống hơn nữa với quan điểm của Gi. Đờ-lo khi ông này cho rằng, các xung đột trong tương lai sẽ được châm ngòi bằng những yếu tố văn hóa chứ không phải kinh tế hay ý thức hệ tư tưởng.
Như vậy, theo X.Ph.  Hăn-tinh-tơn và những người cùng quan điểm, hiện tại và cả trong tương lai, sự đụng độ, sự xung đột văn hóa giữa và trong nội bộ các nền văn minh của nhân loại sẽ trở thành nhân tố chủ yếu chi phối nền chính trị thế giới. Không những vậy, theo X.Ph. Hăn-tinh-tơn, sự xung đột giữa tầng lớp những người giàu có và tầng lớp những người nghèo khổ sẽ không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và xã hội thế giới. Hơn thế nữa, điều đó có nghĩa là, sẽ không còn diễn ra sự đấu tranh nào giữa người giàu và người nghèo trong xã hội; không còn phải lo đến chuyện đấu tranh đòi quyền bình đẳng hay sự công bằng xã hội cũng chính là sẽ không còn cuộc đấu tranh giai cấp ở mỗi nước và trên phạm vi toàn thế giới. Trong thế giới đương đại, theo X.Ph. Hăn-tinh-tơn, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc thì ranh giới giữa các nền văn minh, mà cốt lõi là văn hóa, sẽ trở thành chiến tuyến mới.
Vì sao X.Ph.  Hăn-tinh-tơn và những người cùng quan điểm với ông lại đặt sự xung đột dữ dội về văn hóa thay cho sự xung đột giàu  - nghèo, thay cho sự xung đột giữa các tầng lớp trong xã hội và tạo cơ sở để suy rộng ra là thay cho đấu tranh giai cấp? Phải chăng do X.Ph. Hăn-tinh-tơn chỉ nhìn thấy sự khác biệt, những mâu thuẫn, những nhược điểm và những hạn chế, hay nói chung, chỉ thấy mặt tiêu cực mà không nhìn thấy hay cố tình không nhìn thấy những giá trị căn bản, giá trị cốt lõi, nổi trội, phổ biến của văn hóa mà xưa nay vốn được nhân loại tôn sùng, hướng tới và vẫn đang tiếp tục hướng tới, đó là những giá trị Chân - Thiện - Mỹ?
Chúng tôi cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, chính các giá trị vốn đã tồn tại hàng nghìn đời cùng với nhân loại đã kéo mọi người xích gần lại với nhau hơn; đã mở ra những cơ hội để cho các dân tộc đối thoại với nhau, để trao đổi, giao lưu và học hỏi lẫn nhau chứ không phải là ngược lại. Sở dĩ các quốc gia có điều kiện để phát triển đất nước, để đạt được tiến bộ một phần rất quan trọng là nhờ có văn hóa hòa bình, nhờ có văn hóa khoan dung và nhờ có sự đối thoại chân thành, cởi mở, bình đẳng. Đành rằng, thực tế là trong lịch sử đã có những cuộc thanh trừng sắc tộc, sự kỳ thị với người Hồi giáo, người Do Thái, đặc biệt là vẫn đang diễn ra tại nhiều nơi với những người da màu, tuy nhiên, những cuộc thanh trừng ấy chủ yếu liên quan đến lãnh thổ, đến kinh tế, nói chung là đến địa - chính trị, địa - kinh tế, đến nạn phân biệt chủng tộc chứ không phải là vì sự khác biệt về văn hóa, không phải do xung đột văn hóa.
Câu hỏi đặt ra là liệu hiện nay và mai sau xung đột văn hóa có thay thế hoàn toàn cho xung đột lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp hay không? Có phải trong tương lai nguyên nhân dẫn đến các xung đột xã hội sẽ là các yếu tố văn hóa chứ không phải do sự bất bình đẳng về kinh tế - xã hội, do sự phân cực giàu nghèo hay không?
2- Có thể hiểu xung đột (“conflicts”) theo hai nghĩa. Thứ nhất, xung đột là sự không tương thích, không khớp nhau giữa các thành phần, các bộ phận, các yếu tố cấu thành của một hệ thống. Chính sự không tương thích, không khớp nhau ấy sẽ dẫn đến hệ quả khó có thể lường trước, thậm chí khó tránh khỏi là sự vận hành trục trặc, hoặc nặng nề hơn là sự sụp đổ, phá vỡ của hệ thống đó. Thứ hai, xung đột trong xã hội là sự va chạm mạnh mẽ, sự chống đối nhau do mâu thuẫn gay gắt không thể giải quyết bằng các biện pháp dung hòa hay thỏa hiệp.
Mặc dù từ lâu vấn đề xung đột đã được nghiên cứu sâu trong những lĩnh vực quan hệ quốc tế, xã hội học, chính trị học,... nhưng sự xung đột trong văn hóa, đặc biệt là sự xung đột giữa các nền văn minh, thì mới được bàn đến nhiều trong khoảng mấy chục năm gần đây.
Lịch sử nhân loại từ xa xưa đến nay cho thấy đã xảy ra những xung đột văn hóa thuộc các cấp độ khác nhau. Có cuộc xung đột trong xã hội mà lúc đầu chỉ là những sự khác biệt, những mâu thuẫn nhỏ nhặt, lẻ tẻ trong một phạm vi rất hẹp có thể liên quan đến văn hóa, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà những sự khác biệt văn hóa, những mâu thuẫn lẻ tẻ ấy không được giải quyết kịp thời, bị tích tụ lại, dần dần mở rộng ra thành những xung đột văn hóa, thậm chí đôi khi có thể trở thành những cuộc chiến tranh giữa các khu vực, các vùng lãnh thổ. Điều này cũng đã từng xảy ra giữa các khu vực vốn có niềm tin tôn giáo và có hệ thống các giá trị văn hóa khác nhau.
Như vậy, sự xung đột trong xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát sinh và tồn tại của những mâu thuẫn. Trong triết học biện chứng duy tâm của Hê-ghen và triết học biện chứng duy vật mác-xít, khái niệm mâu thuẫn được dùng để chỉ cả những mối liên hệ thống nhất lẫn sự đấu tranh, sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau; nghĩa là mâu thuẫn được coi là mối quan hệ giữa các yếu tố, các khuynh hướng trái ngược nhau trong cùng một đối tượng hoặc giữa các đối tượng trong cùng một hệ thống. Khi không được giải quyết kịp thời, các mâu thuẫn sẽ phát triển tới mức cao nhất là phủ định lẫn nhau và hình thức biểu hiện cao nhất ra bên ngoài chính là sự xung đột. Như vậy, xung đột là sự biểu hiện ra bên ngoài, là hiện tượng hay cũng có thể nói là sự tồn tại khác của mâu thuẫn, còn mâu thuẫn chính là bản chất bên trong của sự vật hay hiện tượng.
Sự xung đột trong một xã hội được thể hiện ở các mức độ khác nhau. Chẳng hạn, ở mức độ nhẹ nhất thì đó là sự bày tỏ thái độ phản đối, chống đối bằng ngôn từ, bằng kiến nghị hoặc bằng yêu sách; ở mức độ cao hơn là sự phản đối bằng hành động phi bạo lực, như biểu tình, lãn công, đình công hoặc tổng bãi công; ở mức độ cao nhất thì đó là hình thức chủ động đấu tranh bằng cách sử dụng bạo lực chính trị kết hợp vũ trang hoặc cũng có thể chỉ bằng bạo lực vũ trang đơn thuần. Như vậy, có thể nói, xét về bản chất, mọi xung đột đều bắt nguồn từ sự khác biệt, sự không dung hợp, sự mâu thuẫn giữa các thành phần, các yếu tố, các đối tượng hoặc các chủ thể khác nhau.
Trước khi bàn về xung đột văn hóa, cần hiểu cho thống nhất một cách tương đối về khái niệm văn hóa.
Chúng ta đều biết, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng của dân tộc mình, trong đó tính đa dạng, sự phong phú và sự độc đáo về bản sắc là những nét nổi trội nhất. Vì văn hóa là một trong những đặc trưng tiêu biểu của loài người và chỉ có ở loài người cho nên văn hóa vừa mang tính người, vừa mang tính xã hội. Do vậy, khi xã hội có những chuyển động theo các chiều hướng khác nhau thì những chuyển động đó sẽ được phản ánh dưới các góc độ khác nhau trong văn hóa. Nói cách khác, văn hóa chính là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người biểu hiện trong các kiểu, các cách thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong tổ hợp các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần cùng các chuẩn mực hành vi do con người sáng tạo ra để điều chỉnh hành vi con người và được tích lũy lại, được làm phong phú thêm trong quá trình con người tương tác với thiên nhiên và trong quan hệ con người với con người trong xã hội.
Như vậy, văn hóa chính là những dấu ấn của một cộng đồng người, của một dân tộc được ghi lại, được truyền lại cho các thế hệ kế tiếp trong các phong tục, tập quán, thói quen, nghi lễ thờ cúng dân gian; trong các tôn giáo; trong cách thức ứng xử, cách giao lưu của con người; trong các quan hệ xã hội; trong luật pháp cũng như trong các công trình kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật; trong những tạo phẩm vật chất,... được con người làm ra ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Cho nên khi nói đến văn hóa của một tộc người hay của một quốc gia dân tộc, trước hết là nói đến những gì tương đối ổn định, gắn bó mật thiết với con người mà nếu thiếu nó thì con người sẽ cảm thấy vô vị, mất phương hướng, thậm chí là vô vọng. Tuy nhiên, văn hóa không phải là cái hoàn toàn bất biến, cũng không phải là những gì mãi mãi cố định, không có bất cứ sự bổ sung nào. Hơn thế nữa, văn hóa bao hàm trong nó quan hệ giao tiếp, thái độ lẫn cung cách ứng xử, sự học hỏi lẫn nhau, do vậy, nó không chấp nhận sự bài ngoại hay sự biệt lập và nhất là không chịu tự trói buộc mình quá ngặt nghèo vào truyền thống, vào quá khứ.
Các giá trị văn hóa của một cộng đồng người hay của cả một dân tộc đóng vai trò là chất gắn kết chặt chẽ tất cả những con người trong cộng đồng hay dân tộc đó. Vì lẽ ấy mà các giá trị văn hóa lâu đời của một cộng đồng hay của một quốc gia - dân tộc luôn được gìn giữ hết sức thành kính và cẩn trọng; càng được ra sức bảo vệ trong những thời khắc vô cùng khó khăn, khốc liệt của lịch sử như chiến tranh và làm cho chúng ngày càng phong phú thêm. Cũng chính vì lẽ ấy mà sự xung đột về văn hóa đôi khi có thể là nguyên cớ dẫn đến sự xung đột giữa các quốc gia - dân tộc. Song, sự xung đột vì nguyên cớ này chỉ là những trường hợp vô cùng hiếm hoi và hết sức cá biệt. Bởi vì, lịch sử nhân loại đã cho thấy, sự khác biệt về văn hóa không phải lúc nào cũng là căn nguyên chủ yếu dẫn đến sự chia rẽ, cũng không dẫn đến những mâu thuẫn không thể giải quyết và nhất là càng không dẫn đến sự xung đột giữa các dân tộc, các quốc gia. Chúng ta thấy rất rõ rằng, các nền văn hóa từ văn hóa cổ đại Ai Cập, văn hóa Hy Lạp - La Mã, văn hóa thời kỳ Phục hưng cho đến văn hóa Khai sáng ở châu Âu và văn hóa trong thế giới đương đại đều có những điểm tương đồng là đối thoại, tiếp nhận, tiếp biến, hòa hợp, khoan dung và học hỏi lẫn nhau. Như vậy, văn hóa tuyệt nhiên không phải là nguồn gốc, cũng không phải là nguyên cớ hay là nguyên nhân chủ yếu của những sự chia rẽ, những mối bất hòa hay của những xung đột xã hội. Ngược lại, văn hóa chính là chất kết dính mọi người lại với nhau, khơi dậy lại, vun đắp lòng khoan dung, tính vị tha ở mỗi con người, ở dân tộc này đối với dân tộc khác mà có thể một lúc nào đó bị lãng quên, bị phai nhạt vì những lý do khác nhau.
Xung đột trong văn hóa được hiểu là sự khác biệt văn hóa bị đẩy đến mức mâu thuẫn gay gắt, đến sự phủ định lẫn nhau giữa các giá trị và bản sắc văn hóa khác nhau. Sự xung đột này thể hiện rõ nhất là trong tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống dưới nhiều hình thức, song suy đến cùng, về bản chất, nó là sự va chạm, sự đụng độ mạnh mẽ, sự đối lập gay gắt giữa các quan niệm khác nhau về giá trị và hệ thống các giá trị. Một khi sự va chạm, sự đụng độ mạnh mẽ, sự đối lập gay gắt ấy nếu không được giải quyết một cách khéo léo, kịp thời, hợp lý và theo tinh thần khoan dung thì rất có thể sẽ dẫn đến xung đột văn hóa.
Trên phạm vi thế giới, ở một mức độ nhất định chúng ta đã từng và vẫn đang được chứng kiến sự xung đột văn hóa giữa phương Đông và phương Tây, giữa văn hóa Hồi giáo và văn hóa châu Âu Thiên chúa giáo,... thông qua rất nhiều sự biến ở các nước và các khu vực khác nhau. Sự xung đột ấy trước hết phản ánh sự mâu thuẫn giữa hệ thống các giá trị hoặc các giá trị riêng lẻ, giữa các bản sắc, các yếu tố phổ biến trong các cộng đồng dân tộc, như phong tục, tập quán, lối sống, ngôn ngữ, niềm tin, tín ngưỡng,... do các mâu thuẫn không được giải quyết kịp thời. Phải thừa nhận rằng, bên cạnh sự xung đột dễ nhận ra ấy thì đúng là ngay trong lòng các xã hội Hồi giáo và Thiên chúa giáo cũng có lúc đã thể hiện một điều khác rất đáng quan tâm, đó là tinh thần khoan dung đối với người không cùng văn hóa, không cùng tín ngưỡng, không cùng tôn giáo đã giảm đi rõ rệt trong vòng vài chục năm qua(5).
Bên cạnh đó, các nền văn hóa khác nhau còn có những nguyên tắc và những chuẩn mực khác nhau nhất định. Những nguyên tắc và những chuẩn mực ấy có thể là hữu ích, là cần thiết đối với một nền văn hóa nào đó, song lại rất có thể là không có ích, không cần thiết, thậm chí đi ngược lại các giá trị của một nền văn hóa khác. Do vậy, sẽ có những nền văn hóa có xu hướng chống lại các yếu tố văn hóa trái ngược, từ đó làm nảy sinh các mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn sắc tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước phần lớn có sự đa dạng về chủng tộc, sắc tộc. Đồng thời, phải thừa nhận rằng chủ nghĩa bá quyền văn hóa của nước lớn, của các nước đế quốc và các nước tư bản giàu có trên thế giới cũng góp phần không nhỏ làm cho sự khác biệt văn hóa biến thành xung đột. Chủ nghĩa bá quyền văn hóa ấy tự đánh giá nền văn hóa của dân tộc mình là cao nhất, là trên hết vì nó mang giá trị phổ biến, do vậy, nó hạ thấp giá trị và đối xử một cách bất bình đẳng với các nền văn hóa của những quốc gia và dân tộc khác. Cách đối xử như vậy đã dẫn đến phản ứng không tránh khỏi của những nền văn hóa khác và làm nảy sinh các xung đột văn hóa.
Những mâu thuẫn ấy nếu bị đẩy tới cao trào sẽ biểu hiện ra bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, mà đậm nét nhất chính là sự va chạm, hay là sự xung đột giữa các nền văn hóa và văn minh khác nhau. Vì vậy, cần phải hết sức thận trọng và tỉnh táo khi nhìn nhận, đánh giá những nét đặc thù, những sự khác biệt về mặt văn hóa trong quan hệ quốc tế, tránh để cho sự khác biệt và sự cách biệt về văn hóa giữa các nền văn minh dẫn loài người đến xung đột và chiến tranh.
3- Không thể không thừa nhận rằng, cho đến lúc này trên toàn thế giới, bất kể là một nước đã ở trình độ phát triển cao, một nước đang phát triển hay một nước kém phát triển thì sự tồn tại các giai cấp khác nhau ở mỗi nước vẫn là một sự thật hiển nhiên. Khi mà các giai cấp khác nhau vẫn còn tồn tại, khi sự bất công và sự phân cực giàu nghèo vẫn còn nguyên đó thì sự đối kháng về lợi ích kinh tế và lập trường chính trị vẫn chưa hề mất đi. Nói cách khác, khi xã hội còn có các giai cấp thì còn có đấu tranh giai cấp, đó là chân lý. Vấn đề đấu tranh giai cấp vẫn thể hiện ra ở tất cả các khía cạnh, như kinh tế, chính trị, xã hội; thể hiện trong các cuộc đấu tranh tư tưởng, trong các chính sách được ban hành và trong các hành động phản ứng lại trước những sự kiện diễn ra trong một nước và trên thế giới...
Dĩ nhiên, cần phải đặt đấu tranh giai cấp trong điều kiện thế giới hiện nay. Không thể phủ nhận rằng, khoa học và công nghệ dù tiến bộ đến mức nào chăng nữa, dù cho máy móc có hiện đại đến cỡ nào đi nữa, dù cho trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) có mặt trong nhiều sản phẩm, có thể thay thế rất nhiều chức năng và sức lực của con người, có thể biến nhiều công nhân thành những người thất nghiệp một phần hay thất nghiệp toàn phần thì trong các lĩnh vực sản xuất xã hội cũng vẫn không thể thiếu được sức lao động của con người,... tức là không thể thiếu được lao động sống. Tất cả họ, dù thuộc tầng lớp nào trong giai cấp công nhân, trước đây cũng như hiện nay, “đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương”(6), nghĩa là họ đều không tránh khỏi việc bán sức lao động và bị bóc lột sức lao động.
C. Mác đã từng nói: “... những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ”(7). Nhận xét đó của C. Mác vẫn rất đúng trong điều kiện cách mạng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo hiện nay. Ở các nước tư bản phát triển, một số ít công nhân tuy đã có một số cổ phần nhất định, đã có thể làm những công việc với mức lương cao nhưng thực chất thì họ vẫn chỉ là những người làm công ăn lương; họ vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư dưới nhiều hình thức tinh vi hơn và được che đậy dưới cái tên quen thuộc là lợi nhuận. Song, cần phải thấy một sự thật hiển nhiên là trước đây, hiện nay và chắc chắn cả sau này nữa, sản xuất ra giá trị thặng dư vẫn là quy luật tuyệt đối của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nếu không có lợi nhuận thì không một nhà tư bản nào lại bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, mà thật ra “lợi nhuận chỉ là hình thái thứ sinh, phái sinh và được biến đổi của giá trị thặng dư, là hình thái tư sản trong đó đã xóa hết những nguồn gốc của nó”(8).
Có một sự thật bất công là hiện nay trên toàn thế giới nhóm 1% số người giàu nhất thế giới đang chiếm tới trên 80% tổng tài sản của toàn xã hội được tạo ra trong năm 2017, cũng 1% số người giàu nhất thế giới ấy chiếm tới 50,1% tài sản của toàn thế giới đang có(9). Con số này đã nói lên sự phân cực giàu nghèo cao đến mức nào trong xã hội hiện đại! Điều đó có nghĩa là giai cấp những người lao động, những người nghèo khổ trong thời đại chúng ta vẫn phải tiến hành các cuộc đấu tranh nhằm giành lại quyền lợi chính đáng, giành lấy sự công bằng cho hơn 90% số người còn lại và nhất là giành việc làm cho hàng trăm triệu người chịu cảnh thất nghiệp trên toàn thế giới.
Chúng ta đều biết là để giai cấp công nhân và tất cả những người lao động giành được quyền lợi chính đáng và sự công bằng trong điều kiện sự phân cực giàu nghèo lớn như hiện nay là điều hoàn toàn không dễ dàng. Bởi vì, sự phân tầng trong giai cấp công nhân đã khác trước rất nhiều; tính chất công việc cũng có những thay đổi đáng kể và không đồng đều về năng lực và các cơ hội. Có những loại việc dùng nhiều lao động không đòi hỏi năng lực cao, song có loại việc lại chỉ cần một số lượng lao động rất nhỏ nhưng yêu cầu trình độ cao, thậm chí rất cao. Do vậy, các cuộc đình công huy động được rất nhiều người lao động tham gia đã diễn ra và làm tê liệt trong nhiều ngày các lĩnh vực sản xuất, khai thác khoáng sản, chế tạo ô-tô hoặc các lĩnh vực trọng yếu, như vận tải hàng không, lái tàu điện ngầm, lái xe lửa... Điển hình nhất là phong trào biểu tình “chiếm phố Uôn” năm 2011 diễn ra tại Mỹ đã thu hút không chỉ người nghèo mà còn rất nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu, sau đó lan rộng ra gần 1.000 thành phố của hơn 80 quốc gia thuộc châu Mỹ, châu Âu, châu Á và châu Đại dương.
Song, có một thực tế khác là số người tham gia bãi công trong các lĩnh vực công nghệ cao lại không nhiều. Đó là vì, nếu như trước đây người công nhân phản đối giới chủ bằng cách phá hủy máy móc hoặc tổ chức đình công dài ngày cần phải huy động đông đảo công nhân, thì ngày nay, “muốn cho sự sản xuất xí nghiệp bị đình đốn, không cần phải dựa vào lực lượng tập thể to lớn của công nhân. Chỉ cần một vi-rút trong máy điện toán đủ làm hại cả chương trình, hay tin tức bị tiết lộ cho đối phương. Một nhân viên hờn giận hay thiếu trách nhiệm cũng có thể khiến cho công ty trở thành hỗn loạn”(10). Như vậy, tính chất của cuộc đấu tranh dù có thay đổi thì vai trò của người công nhân tri thức trong các lĩnh vực công nghệ cao vẫn được thể hiện.
Nói cách khác, khi tính chất công việc của mỗi người lao động trong những lĩnh vực công nghệ cao ngày càng khác nhau thì chính người lao động lại trở thành người có quyền lực trong thời đại “tri thức chuyển mình biến thành phẩm chất quyền lực..., thành ra vai trò cốt tử của quyền lực”(11). Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi, giới chủ trong giai cấp tư sản, trước đây cũng như hiện giờ, đã không và vẫn không sẵn sàng, không dễ dàng từ bỏ những khoản lợi nhuận khổng lồ của họ. Vì vậy, cuộc đấu tranh cho sự công bằng và quyền bình đẳng cho con người vẫn chưa kết thúc. Do vậy, các hình thức đấu tranh với giới chủ của người lao động để giành những quyền lợi chính đáng, đòi sự công bằng cho mình tuy có khác trước nhưng sẽ không giảm phần quyết liệt.
Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và những người lao động trong điều kiện kinh tế tri thức, trong thời đại khoa học và công nghệ cao, thời đại trí tuệ nhân tạo có rất nhiều hình thức, có cả hình thức phản kháng, chống đối cổ điển đông người như trước đây, lẫn các hình thức rất mới tuy ít người nhưng vẫn có tác dụng, ảnh hưởng rất lớn. Vai trò của giai cấp công nhân và những người lao động trong tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội hiện đại, trong cuộc đấu tranh chống bóc lột, vì vậy vẫn không hề suy giảm. Sứ mệnh tập hợp sức mạnh của giai cấp công nhân thế giới trong cuộc đấu tranh này đang đặt lên vai các tổ chức công đoàn lớn của thế giới, như Tổng liên đoàn Lao động Quốc tế (ITUC) cùng với các đảng cộng sản và công nhân cách mạng trên toàn thế giới. Phân tích một cách khách quan và khoa học sự biến động trong cơ cấu ngành nghề, trong số lượng công nhân trí thức đang tăng lên như một xu thế tất yếu trong kỷ nguyên công nghệ số và trí tuệ nhân tạo thì càng thấy rõ hơn vai trò của giai cấp công nhân, của cuộc đấu tranh giai cấp dưới những hình thức mới đối với sự phát triển của xã hội hiện đại.
Như vậy, mặc dù đã có những thay đổi đáng kể về hình thức đấu tranh đòi quyền sống, quyền dân chủ, đòi sự công bằng xã hội, chống lại các hình thức bóc lột tinh vi, nhưng tựu trung cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang và sẽ tiếp diễn trong những điều kiện mới chứ không hề mất đi. Cuộc đấu tranh ấy hoàn toàn không thể bị xung đột văn hóa thay thế như một số người lầm tưởng, mặc dù xung đột văn hóa trong thế giới đang toàn cầu hóa này vẫn sẽ là hiện tượng rất đáng được quan tâm để tránh những hậu quả không mong muốn, nhất là trong các quan hệ quốc tế./.
--------------------------------------------------
(1) Samuel Huntington: Sự va chạm của các nền văn minh (The Clash of Civilization and the Remaking of wolrd Order, 2001), Nxb. Lao động, Hà Nội, 2003. Có lẽ tên cuốn sách nên dịch cho đúng là Sự đụng độ giữa các nền văn minh và xây dựng lại thế giới
(2) Samuel Huntington: Sự va chạm của các nền văn minh, Sđd, tr. 13 - Chữ trong [ ] là của tác giả bài viết
(3) Vaclav Havel, nhà văn, triết gia, nhà viết kịch, chính khách, Tổng thống cuối cùng của Tiệp Khắc, Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Séc
(4) Jacques Delors, chính khách người Pháp
(5) Samuel Huntington: Sự va chạm của các nền văn minh, Sđd, tr. 295
(6) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 600
(7) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, 1993, t. 12, tr. 10
(8) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, 2000, t.  46, phần II, tr. 160
(9)  Xem:  http://vneconomy.vn/nhom-1-giau-nhat-dang-nam-hon-nua-tai-san-the-gioi-20171115102832618.htm
(10), (11) Alvin Toffler: Thăng trầm quyền lực, Phần tiếp, Nxb. Thông tin lý luận, Ban Khoa học xã hội Thành ủy/Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 82, 38
Nguyễn Trọng ChuẩnGS, TS, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Nguyên tắc cơ bản xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường


Ảnh minh họa - Nguồn: baodautu.vn
Cơ sở khách quan của mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường
Thứ nhất, quan hệ giữa nhà nước và thị trường xuất phát từ chính bản thân các chức năng vốn có của nhà nước.
Về bản chất, nhà nước có một số chức năng, trong đó có chức năng kinh tế và chức năng xã hội. Nói cách khác, trong quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhà nước với vai trò là một thiết chế xã hội quan trọng nhất, đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền đã can thiệp vào các hoạt động kinh tế - xã hội với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo chiều hướng phục vụ chính cho lợi ích của giai cấp mình. Mặc dù sự phát triển của nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan, song sự can thiệp của nhà nước có chủ đích đã tác động đến chiều hướng phát triển, cao hơn là định hướng sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Là một thiết chế xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng, nhà nước thực hiện vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế, tuy nhiên với mỗi nấc thang phát triển, hay với mỗi mô hình kinh tế thì vai trò quản lý, điều hành của nhà nước có những sắc thái khác nhau. Đặc biệt với sự xuất hiện của thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước cũng đa dạng và linh hoạt hơn.
Thị trường, đó không chỉ là nơi diễn ra sự mua bán, mà trong quan hệ với nhà nước quản lý, đó còn là các loại thị trường, các yếu tố thị trường và các chủ thể trên thị trường. Như vậy, quan hệ giữa nhà nước và thị trường, về thực chất, là quan hệ giữa nhà nước với vai trò người quản lý và quá trình hình thành, phát triển của các loại thị trường, các yếu tố thị trường và các chủ thể thị trường.
Với chức năng kinh tế, nhà nước không chỉ là người quản lý, người ban hành các quy định, các luật chơi trên thị trường, mà nhà nước còn đóng vai trò chủ thể hoạt động sản xuất (nhất là các hàng hóa và dịch vụ công), là người mua và người bán các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Như vậy lúc này quan hệ giữa nhà nước và thị trường biểu hiện ra là quan hệ giữa các chủ thể trên thị trường, quan hệ giữa những người mua và người bán hàng hóa và dịch vụ chịu sự tương tác, ràng buộc của các quy luật kinh tế trên thị trường, cũng như sự quản lý điều hành của nhà nước thông qua hệ thống quy định luật pháp và các công cụ quản lý.
Xét về mục đích thực hiện các chức năng, dù xuất hiện với tư cách nào, thì quan hệ giữa nhà nước và thị trường, về bản chất, là quan hệ lợi ích. Đó là lợi ích của nhà nước và lợi ích của các chủ thể trên thị trường. Nhà nước thực hiện quản lý là hướng tới mục đích bảo đảm cho thị trường phát triển hiệu quả. Thị trường phát triển chính là cơ sở kinh tế, bảo đảm sự phát triển của nhà nước. Do vậy trong xử lý quan hệ giữa nhà nước và thị trường cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trên thị trường.
Trên thực tế, sự tương tác giữa nhà nước và thị trường đều hướng đến gia tăng lợi ích, tạo ra sự tăng trưởng nói chung của các chủ thể trên thị trường. Đây chính là mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, thúc đẩy nhà nước và thị trường gắn bó, tương tác với nhau. Về bản chất, đó chính là quan hệ cộng sinh, tùy thuộc vào nhau cùng phát triển, cùng đạt được lợi ích. Mặt khác trong quá trình tương tác có sự cạnh tranh vai trò, lợi ích. Khi phân vai phù hợp, đúng với trình độ phát triển và năng lực xử lý thì lợi ích sẽ được thỏa mãn. Ngược lại, khi phân vai không đúng, nhà nước lấn át thị trường, hay thị trường lấn át nhà nước thì sẽ dẫn đến kết cục: sự quản lý của nhà nước kém hiệu quả và bản thân thị trường sẽ không thể phân bổ hợp lý, hiệu quả các nguồn lực. Đây chính là mặt mâu thuẫn trong quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Thứ hai, từ sự thất bại của thị trường.
Thị trường vận hành và phát triển theo các quy luật khách quan. Tuy nhiên bản thân thị trường không phải lực lượng vạn năng, trên thực tế, nền kinh tế thị trường không phải là nền kinh tế hoàn hảo, tối ưu mà ngay trong bản thân nó cũng vốn có những mặt trái, những thất bại mà người ta không mong muốn. Thị trường thất bại thể hiện tình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực, khi nó không thể sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ mà xã hội cần. Chính những thất bại của thị trường là cơ sở cắt nghĩa cần có sự can thiệp của nhà nước.
Sự thất bại của thị trường đã được giới kinh tế học đề cập khá rõ và có thể được tóm lược trong một số trường hợp sau: Một là, thiếu sự cạnh tranh: Yếu tố cơ bản để thị trường tạo ra đòn bẩy kinh tế là môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên do các yếu tố lịch sử, tự nhiên hoặc thể chế chính trị có thể tạo ra một hoặc số ít các doanh nghiệp độc quyền chi phối thị trường. Vì thiếu cạnh trạnh, việc cung cấp các sản phẩm thường không hiệu quả cho nền kinh tế. Trong trường hợp này cần có sự can thiệp của nhà nước để tạo ra sự cạnh tranh cần thiết. Hai là, các ảnh hưởng ngoại vi (ngoại tác): Trong nhiều trường hợp cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể tạo ra các ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến các cá nhân hoặc các doanh nghiệp khác mà không được bù đắp chi phí (với ảnh hưởng tốt) hoặc không phải đền bù thiệt hại (với ảnh hưởng xấu). Nếu nhà nước không có những can thiệp mạnh mẽ đúng mức, các ảnh hưởng xấu sẽ gia tăng và ảnh hưởng tốt sẽ giảm dần và không đạt được hiệu quả xã hội. Ba là, sự thiếu hụt hay bất cân xứng về thông tin có thể làm cho các giao dịch thị trường không được thực hiện. Chẳng hạn như dịch vụ dự báo thời tiết, thông tin về môi trường và sức khỏe.... Trong những trường hợp này thị trường cần được cung cấp bổ sung thông tin và không ai khác mà chính là nhà nước phải thực hiện vai trò này. Bốn là, các thị trường không hoàn hảo. Trên thực tế, một số thị trường vì các khó khăn và rủi ro trong việc thu thập thông tin và quản lý đã không thể có đủ hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội. Và trong điều kiện này sự can thiệp của nhà nước là cần thiết để thúc đẩy và duy trì sự sáng tạo của nền kinh tế. Năm là, cung cấp dịch vụ công ích. Thông thường các dịch vụ công không thể cá nhân hóa, ví như dịch vụ cứu hỏa, trật tự xã hội, hệ thống công viên... Chính vì vậy thị trường không thể tạo ra các nhà cung cấp tư nhân cung cấp hoặc cung cấp một cách hiệu quả các dịch vụ này và thông thường nhà nước phải có vai trò chính trong việc cung cấp các dịch vụ công ích. Sáu là, sự phát triển kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo hay sự bất công bằng về thu nhập. Đây chính là thuộc tính của cơ chế thị trường. Trong trường hợp này, với chức năng của mình, nhà nước phải can thiệp vào quá trình tiếp cận cơ hội và phân phối lại cũng như cung cấp các dịch vụ bảo đảm an sinh xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo. Bảy là, sự vận động của nền kinh tế thị trường, xét trên góc độ vĩ mô, theo những chu kỳ nhất định tạo nên một sự bất ổn định vĩ mô. Sản lượng lên xuống thất thường, mặc dù xét về dài hạn, nó vẫn bộc lộ một xu hướng hay tiềm năng tăng trưởng nào đó. Nền kinh tế lúc phải chịu tỷ lệ lạm phát cao, lúc lại rơi vào suy thoái với tỷ lệ thất nghiệp cao. Điều đó tạo ra sự bấp bênh và rủi ro đối với cuộc sống của nhiều người trong xã hội. Tính mất ổn định vĩ mô đó cũng là một trong những khiếm khuyết của thị trường, mà tự bản thân thị trường không khắc phục được.
Để khắc phục những thất bại này, không thể thiếu vai trò của nhà nước. Nhà nước phải can thiệp vào thị trường để tạo cơ hội, môi trường cho sự vận hành bình thường của thị trường đáp ứng yêu cầu xã hội. Nói cách khác, không thể có thị trường tự do thuần túy, để một thị trường vận hành hiệu quả cần có sự can thiệp của nhà nước. Nhà nước can thiệp, cộng sinh với thị trường để hiệu chỉnh, khắc phục khiếm khuyết của các thị trường, chứ không phải để thay thế thị trường.
Một điều cũng cần thấy là, trong xã hội hiện đại, sự can thiệp của nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khắc phục các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và mở rộng nền dân chủ cũng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt nhà nước trong một nền dân chủ là công cụ có thể làm giảm phần lớn những tác động tiêu cực của hệ thống thị trường, trong khi vẫn duy trì được quyền sở hữu và quyền tự do. Nói cách khác, chính hệ thống chính trị dân chủ có thể đóng góp hiệu quả nhất vào hoạt động của nền kinh tế thị trường. Và, cho dù nhà nước có vai trò quan trọng, không thể thiếu được trong phát triển nền kinh tế, song điều đó không có nghĩa là nhà nước có thể bao biện, làm thay cho tất cả các hoạt động thị trường. Nhà nước chỉ nên chú trọng tới những lĩnh vực mà thị trường không thể làm được, hoặc mức độ làm được không thể hoàn hảo bằng sự can thiệp của nhà nước. Mở rộng sự can thiệp quá mức, trong nhiều trường hợp bản thân nhà nước cũng gặp thất bại.
Thứ ba, từ những thất bại của nhà nước trong thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội.
Việc can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế - xã hội là tất yếu với mục đích chung là tạo ra sự phát triển. Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, sự can thiệp của nhà nước cũng không đạt được hiệu quả mong muốn. Chúng ta đã chứng kiến sự “giằng co” trong quan điểm cũng như trong thực tiễn về vai trò can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 và sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ hai, quan điểm về vai trò của nhà nước đã có sự chuyển đổi từ việc cổ vũ cho việc nhà nước ít can thiệp sang mở rộng vai trò của nhà nước. Cho đến những năm 60 của thế kỷ XX, nhà nước đã thực sự can dự vào mọi phương diện của nền kinh tế, quản lý giá cả và điều chỉnh ở mức độ ngày càng tăng lao động, các thị trường hối đoái và tài chính(1).
Chính sự tham gia ở mức độ cao của nhà nước vào các hoạt động của thị trường đã làm méo mó các quan hệ thị trường. Cuộc khủng hoảng giá dầu năm 1973 và cuộc khủng hoảng nợ những năm 80 là minh chứng cho sự thiếu hiệu quả của việc nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế. Nói cách khác, điều này phản ánh sự thất bại của các chính sách can thiệp quá mức của nhà nước vào các hoạt động của thị trường.
Sự khủng hoảng và đổ vỡ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 cũng là một minh chứng cho thất bại của nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế. Với sự phát triển dựa trên kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, không chấp nhận vai trò thị trường, đã dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không hợp lý, lãng phí, thất thoát, triệt tiêu động lực tăng trưởng.
Sự thất bại của nhà nước có nhiều lý do, trong đó có những lý do gắn liền với hoạt động của nhà nước. Đó là, bản thân nhà nước không thể nhanh nhạy như thị trường mà thường xuyên thiếu thông tin; nhà nước chỉ có thể kiểm soát hạn chế đối với những phản ứng của tư nhân cũng như kiểm soát hạn chế đối với bộ máy hành chính quan liêu. Bên cạnh đó là những hạn chế do các quá trình chính trị áp đặt...
Thực tế phát triển cho thấy, sự can thiệp quá mức cũng như việc xóa bỏ thị trường đều không thể thành công trong phát triển kinh tế - xã hội. Các quốc gia tư bản phát triển phương Tây đã phải điều chỉnh chiến lược, thực hiện phát triển nền kinh tế hỗn hợp mà ở đó cả nhà nước lẫn thị trường đều được coi trọng. Các nước vốn trước đây phát triển theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cũng đã có chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế hỗn hợp, khôi phục và phát triển thị trường, trả lại chức năng vốn có của thị trường. Sự thất bại của nhà nước trong trường hợp can thiệp quá mức hay xóa bỏ vai trò thị trường cho thấy, không thể phát triển khi thiếu vắng sự can thiệp của nhà nước, cũng như không thể phát triển nếu thiếu vắng thị trường, để phát triển đòi hỏi nhà nước và thị trường cần tương tác, hỗ trợ nhau, khắc phục các khiếm khuyết. Như vậy có thể thấy mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường xuất phát từ chính nhu cầu của nhà nước và nhu cầu thị trường, đó là mối quan hệ tất yếu, tương tác phụ thuộc nhau.
Biểu hiện kết quả của sự tương tác giữa nhà nước và thị trường là sự phát triển của kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Việc xử lý mối quan hệ này được biểu hiện tập trung ở hệ thống thể chế phát triển. Vấn đề là ở chỗ, việc hình thành các nguyên tắc, các quy định, luật để tạo cơ chế cho sự vận hành mối quan hệ này phải hợp lý, phù hợp với các giai đoạn phát triển, với năng lực của từng thành tố. Một nền kinh tế thị trường phát triển là nền kinh tế có hệ thống thể chế phát triển đồng bộ. Hệ thống thể chế đó mở ra cơ hội và phương cách cho nhà nước và thị trường phát huy năng lực, khắc phục hiệu quả các khiếm khuyết của thị trường cũng như của nhà nước. Chính vì vậy, một nội dung rất quan trọng trong xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là phải thể chế hóa vị trí, vai trò của nhà nước và thị trường cũng như mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Khi đề cập đến quan hệ giữa nhà nước và thị trường đòi hỏi cần nhận diện và phân vai giữa chúng trong quá trình vận động của mối quan hệ. Nhà nước cũng như thị trường có chức năng của mình, song các chức năng của nhà nước và thị trường có sự biến đổi cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội và môi trường kinh doanh. Vấn đề là tùy theo năng lực của nhà nước và sự phát triển của thị trường, cũng như tùy theo quan điểm phát triển của mỗi quốc gia mà xác định, phân vai cho phù hợp. Tính phù hợp này được đo bằng hiệu quả của sự tăng trưởng và nó không có ngưỡng chung cho mọi nền kinh tế. Chính vì vậy, nhà nước, với tư cách chủ thể trong mối quan hệ, cần xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng, thực trạng năng lực của nhà nước và trình độ phát triển của thị trường mà lựa chọn sự phân vai tương xứng.
Các nguyên tắc xử lý
Thứ nhất, xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường phải trên cơ sở lợi ích quốc gia là tối thượng và bảo đảm hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường là một trong những mối quan hệ lớn. Giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra trong xử lý quan hệ này là làm sao khai thác được sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, từ nguồn lực nhà nước, nguồn lực thị trường và nguồn lực bên trong, bên ngoài. Phải tạo ra được tổng hợp lực giữa các nguồn lực để phát triển.
Đương nhiên trong quá trình xử lý sẽ phải giải quyết mâu thuẫn lợi ích, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước và thị trường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khó lượng định thì về nguyên tắc phải đặt lợi ích chung của quốc gia, dân tộc lên trên hết. Lợi ích quốc gia là tối thượng, là mục tiêu, nhà nước cần vận dụng các công cụ, thông qua phương tiện là cơ chế thị trường, dựa trên điều kiện xã hội đồng thuận để hướng đến mục tiêu đã xác định.
Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta là: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chế độ xã hội chủ nghĩa, sự giàu mạnh, hùng cường của đất nước, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân”(2). Giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường phải hướng đến hiện thực hóa mục tiêu này. Nhà nước phải hoàn thiện, nâng tầm điều hành hiệu quả, phải trở thành nhà nước liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân. Thị trường phải lành mạnh, khai thác và phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho hiện thực hóa mục tiêu. Tránh những thiên kiến, hay vì lợi ích cục bộ trong xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế thị trường, việc lựa chọn nhà nước hay thị trường là gắn với hiệu quả tăng trưởng. Đã có những thất bại do thiên về nhà nước hoặc thiên về thị trường. Trong những năm gần đây giới nghiên cứu ít nói về nhà nước nhiều hay nhà nước ít, cũng như thị trường nhiều hay thị trường ít. Sự chú ý được thiên về hướng: thị trường hay nhà nước sẽ hiệu quả. Và trên thực tế vận hành của các nền kinh tế cũng như trong xử lý mối quan hệ này, hiệu quả của sự tăng trưởng kinh tế là thước đo đánh giá cho sự lựa chọn nhà nước hay thị trường.
Quan điểm về sự phát triển hiện nay là hướng đến phát triển bền vững, nghĩa rằng không chỉ chú ý đến tốc độ tăng trưởng cao, mà đi liền với tăng trưởng là phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường. Chính vì vậy xử lý vấn đề quan hệ giữa nhà nước và thị trường cũng không chỉ đơn thuần hướng đến tăng trưởng, mà đi liền với tăng trưởng phải bảo đảm được xã hội ổn định, phát triển, đời sống của người dân được cải thiện, người dân được sống trong môi trường lành mạnh, không ô nhiễm.
Thứ hai, nhà nước không can thiệp khi thị trường hoạt động hiệu quả và nhà nước chỉ làm những gì mà thị trường không thể làm hoặc làm không hiệu quả.
Kinh tế thị trường vận hành theo các quy luật khách quan, cơ chế thị trường là cơ chế huy động và khai thác hiệu quả các nguồn lực, do vậy khi thị trường đang vận hành hiệu quả, nhà nước không nên can thiệp làm méo mó thị trường. Thực tiễn đã chứng minh, nền kinh tế phi thị trường do nhà nước điều hành đã thất bại, cũng như khi nhà nước can thiệp quá mức cũng làm mất tính năng động của thị trường, giảm hiệu quả trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nguyên tắc hoạt động của thị trường là bảo đảm sự gia tăng của lợi nhuận. Tuy nhiên trong nền kinh tế có những lĩnh vực, có những thời điểm mà hoạt động trong các các lĩnh vực đó không đem lại lợi nhuận bình quân, không kích thích tư nhân tham gia, song đó lại là những lĩnh vực bảo đảm các điều kiện cho hoạt động sản xuất nói chung cũng như bảo đảm an sinh xã hội, buộc nhà nước phải tham gia hoặc thông qua các cơ chế chính sách để điều chỉnh, tạo cơ hội cho thị trường có thể hoạt động (chẳng hạn hàng hóa công, những lĩnh vực kinh doanh mới nhiều rủi ro...).
Song, sự can thiệp của nhà nước phải dựa trên năng lực quản trị và tiềm lực kinh tế nhà nước. Đối với các nhà nước có năng lực quản trị và tiềm lực kinh tế nhà nước còn thấp, chỉ cần tập trung trước hết vào những chức năng cơ bản, cung cấp những hàng hóa công cộng thuần túy, như quyền sở hữu tài sản, sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát dịch bệnh, đường sá, nước sạch và an sinh cho người nghèo. Một khi cải thiện năng lực của nhà nước, sự can thiệp có thể hướng vào các chức năng trung gian, như quản lý những tác động ngoại lai, điều tiết độc quyền và bảo hiểm xã hội... Đối với các nhà nước có năng lực mạnh có thể thực hiện các chức năng rộng lớn hơn, chủ động, tích cực phối hợp với các thị trường, nuôi dưỡng thị trường phát triển, mở ra cơ hội để thị trường tham gia có hiệu quả vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ ba, xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
Quan hệ giữa nhà nước và thị trường là tất yếu trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do bản thân các thành tố với các điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị không có sự phát triển tương thích, nên mối quan hệ giữa chúng là sự tương tác hỗ trợ không cân xứng. Bản thân vai trò, chức năng của chúng cũng có sự phát triển và điều chỉnh cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Bởi vậy, việc xác định cụ thể vai trò, vị trí của các thành tố ở các nền kinh tế thị trường khác nhau là không hoàn toàn giống nhau, và cũng không giống nhau ngay trong các giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi nền kinh tế. Giải quyết tốt mối quan hệ này cần hết sức linh hoạt, năng động: 1- Trong khi các thị trường còn chưa phát triển, nhà nước cần can thiệp, tạo lập sự phát triển của thị trường thông qua các cơ chế, chính sách và chủ động tạo “dư địa” cho thị trường phát huy tác dụng. Như vậy, cùng với quá trình xây dựng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cũng cần điều chỉnh mức độ can thiệp cho phù hợp dựa trên cơ sở tiêu chí chung là hiệu quả của quá trình phát triển. 2- Xử lý quan hệ giữa nhà nước và thị trường cần toàn diện và đồng bộ, gắn với thực trạng mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và chú ý không chỉ trên phương diện sở hữu, nhằm khơi dậy, phát huy năng lực của các thành phần kinh tế, mà còn cả trong khâu phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong trao đổi, giá cả phải trên cơ sở thị trường và trong phân phối phải bảo đảm nguyên tắc thị trường trong phân phối lần đầu và nhà nước can thiệp trong phân phối lại để bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, giảm thiểu phân hóa giàu nghèo. 3- Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước, kể cả cấp trung ương và địa phương. Sẽ không thể xử lý tốt mối quan hệ này nếu thiếu một chính phủ năng động, kiến tạo. Xây dựng một chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ chính là tạo ra thể chế quản trị hiệu quả, một chính phủ mạnh, một nền công vụ chuyên nghiệp, gọn nhẹ, minh bạch, vì dân. Đây chính là cơ sở để quản trị tốt nền kinh tế nói chung, xử lý tốt mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường nói riêng.
Do vậy xử lý mối quan hệ này cần phù hợp với trình độ phát triển ở từng giai đoạn ứng với năng lực thực tế và trình độ hiện có của thị trường. Không nên xác định vai trò quá lớn của nhà nước hay vai trò đầy đủ của thị trường hoặc ngược lại, khi mà chính sự phát triển của hai thành tố này trên thực tế còn hạn chế hoặc là chưa có sự phát triển tương thích.
Thứ tư, hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong quá trình xử lý quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Thực tiễn các nền kinh tế thị trường phát triển cho thấy, trong nền kinh tế thường xuyên diễn ra mối quan hệ 3 bên: doanh nghiệp, người dân và nhà nước. Mỗi thành tố trong mối quan hệ này có chức năng, mục tiêu hoạt động khác nhau với những lợi ích khác nhau.
Đối với doanh nghiệp: với chức năng sản xuất, tạo ra hàng hóa - dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội, quá trình hoạt động của doanh nghiệp phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, vì lợi nhuận, nên mong muốn của doanh nghiệp là lợi nhuận, là nâng cao giá trị gia tăng.
Nhà nước là cơ quan quyền lực nên sử dụng quyền lực để định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, mong muốn của mọi nhà nước là xã hội ngày càng phát triển văn minh, hiện đại dưới sự dẫn dắt và quản lý của mình.
Người dân vừa là người lao động, cung cấp các yếu tố đầu vào quan trọng cho thị trường, vừa là người tiêu dùng, nên mục tiêu của họ là có được nhiều thu nhập để bảo đảm cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Một xã hội muốn phát triển theo hướng thị trường thì cần xử lý hài hòa lợi ích giữa các thành tố nói trên. Bởi lẽ, nếu quá nhấn mạnh thị trường thì sẽ tạo ra một xã hội chỉ vì lợi nhuận mà bỏ qua tất cả những giá trị nhân văn của cuộc sống...; nếu quá nhấn mạnh đến nhà nước thì sẽ đưa nhà nước đến chỗ ôm đồm, làm tất cả dẫn đến quá sức của mình và sẽ bị “trả giá”, còn nếu chỉ quá nhấn mạnh đến lợi ích của người dân thì xã hội sẽ không có đủ của cải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân, vì tiêu dùng không thể vượt quá khả năng của cải hiện có.
Như vậy, mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân chi phối việc xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, và ngược lại trong xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường phải luôn quán triệt nguyên tắc bảo đảm lợi ích của cả 3 thành tố: nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Thứ năm, xử lý quan hệ giữa nhà nước và thị trường phải đặt trong mối quan hệ đa chiều nhà nước - thị trường - xã hội.
Có thể nói mối quan hệ nhà nước - thị trường - xã hội là mối quan hệ bao trùm trong nền kinh tế thị trường. Trong lý thuyết kinh tế đã tồn tại các trường phái khác nhau, từ nhấn mạnh vai trò của thị trường, đến nhấn mạnh vai trò của nhà nước hay nhấn đến sự cần thiết của cả nhà nước và thị trường trong nền kinh tế hỗn hợp. Bên cạnh đó, trong các nền kinh tế thị trường phát triển, vai trò của xã hội cũng ngày được quan tâm trong việc bổ khuyết và giám sát cả thị trường và nhà nước, thậm chí sau sự thất bại của “đồng thuận Washington” không ít nền kinh tế chủ trương giảm thị trường, đẩy mạnh xã hội.
Quan hệ giữa nhà nước và thị trường diễn ra trong môi trường xã hội nhất định, nên đương nhiên chịu tác động của yếu tố môi trường xã hội. Bên cạnh nhà nước và thị trường, các yếu tố xã hội và các tổ chức xã hội luôn có tác động đến cả nhà nước và thị trường cũng như quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Thực tế cho thấy, với phát triển mạnh có quy mô ngày càng lớn của nền sản xuất xã hội, mối quan tâm của nhà nước không thể bao phủ hết các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, cũng như đến tất cả các đối tượng trong xã hội. Và nhu cầu tất yếu đặt ra, bản thân các tổ chức xã hội phải tham gia giải quyết hoặc tác động đến nhà nước để có các giải pháp hợp lý. Trong quan hệ với nhà nước, thành tố xã hội nhìn dưới góc độ là các tổ chức xã hội sẽ tham gia quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, là người thực hiện và giám sát quá trình thực hiện chính sách. Do vậy rất cần không gian và điều kiện cho các tổ chức xã hội phát huy vai trò của mình trong việc hỗ trợ và giám sát nhà nước.
Trong quan hệ với thị trường, các tổ chức xã hội là một bộ phận trong hệ thống chính trị thực hiện bảo vệ quyền lợi của người dân trước tác động của thị trường. Trên thực tế, sự phát triển của thị trường đã thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội, tạo điều kiện nâng cao vai trò của thành tố xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế. Các vấn đề trong quan hệ giữa thị trường và xã hội nảy sinh khi lợi ích xã hội bị sự phát triển tự do của thị trường lấn át. Thông thường, theo chức năng, nhà nước sẽ can thiệp, giải quyết các vấn đề phát sinh, song không phải lúc nào và mọi vấn đề nhà nước đều có thể kịp thời quan tâm, giải quyết. Và thông thường xã hội cảm nhận thấy trước hết sự tác động của sự phát triển lệch chuẩn của thị trường. Chẳng hạn vấn đề ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm...
Giải quyết mối quan hệ giữa xã hội và thị trường, trước hết, chính là giải quyết mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội và doanh nghiệp nhằm tạo môi trường cho tăng trưởng, bảo đảm lợi ích không chỉ của doanh nghiệp mà còn của xã hội. Cơ chế giải quyết mối quan hệ này chính là thông qua các phong trào, ý kiến của người dân, các tổ chức xã hội buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh hành vi cả trong sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng. Hai là, gián tiếp tác động đến nhà nước để hình thành các quy định điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp cũng như thực hiện giám sát quá trình hoạt động, phản biện các chiến lược và chương trình phát triển của các doanh nghiệp. Ba là, liên kết các mạng lưới xã hội, trao đổi thông tin, khai thác các nguồn lực thực hiện tự quản, hỗ trợ các nghiệp đoàn, bảo vệ các nhóm yếu thế... Bốn là, xây dựng các doanh nghiệp xã hội, thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội phi lợi nhuận, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm là, thực hiện vai trò hỗ trợ nhà nước và hỗ trợ thị trường trong xử lý quan hệ tương tác giữa nhà nước và thị trường (chẳng hạn nắm thông tin thị trường, phản ánh cho nhà nước xử lý, hoặc hỗ trợ nhà nước, điều chỉnh thị trường). Với vai trò đó, thành tố xã hội luôn tác động trong suốt quá trình xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường.
Như vậy, để nền kinh tế có thể phát triển đòi hỏi không chỉ tập trung giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, mà còn phải giải quyết mối quan hệ đa chiều nhà nước  - thị trường - xã hội. Xã hội vừa hỗ trợ, vừa giám sát cả thị trường lẫn nhà nước trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình./.
---------------------------------------------------
(1) Ngân hàng Thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 39
(2) Trương Tấn Sang: Đón bắt thời cơ, phát huy sức mạnh của toàn dân, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, đưa đất nước tiếp tục tiến lên. http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chinh-tri-viet-nam/bao-ve-loi-ich-quoc-gia-la-muc-tieu-toi-thuong-3223166/
Vũ Văn HàPGS, TS, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản