Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet hiện nay


Trong kỷ nguyên công nghệ số, internet đang được các thế lực phản động trong và ngoài nước sử dụng như là một công cụ, phương thức truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá công cuộc đổi mới, hội nhập, sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vạch trần bản chất và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
Tiếp cận thông tin trên internet ở Việt Nam
Mặc dù tiếp cận muộn hơn so với thế giới, nhưng internet ở Việt Nam đã có bước phát triển đột phá, mạnh mẽ. Đến năm 2017, có khoảng 53% (50,05 triệu người) dân số dùng internet tại Việt Nam, tăng 6% so với năm 2016, đồng thời có khoảng 46 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 48% dân số. Số lượng thuê bao di động khoảng 125 triệu; trong đó, hơn 41 triệu thường xuyên sử dụng di động để lướt web bởi sự nhỏ gọn, tiện lợi của nó. Điều đó cho thấy, internet là phương tiện ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bởi khả năng chứa với dung lượng lớn, tốc độ truyền thông tin nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, v.v.
Theo báo cáo Online Mobile and Social Networks in Vietnam 2015 (Mạng di động và mạng xã hội trực tuyến tại Việt Nam năm 2015) của Cimigo1, những lý do chủ yếu cho việc tham gia mạng xã hội trên internet của người Việt Nam, đó là: ngoài việc giữ liên lạc (38%), thì người dùng còn muốn lưu giữ, cập nhật về bạn bè (21%), gặp gỡ những người bạn mới (13%), v.v. Song, đáng chú ý là những thông tin chính trị trên internet luôn có ảnh hưởng to lớn, mạnh mẽ đến xã hội và người dùng mạng, rõ nhất là ở những khu vực đô thị mật độ dân số đông, dân trí cao. Điều này chủ yếu xuất phát từ những lý do cơ bản: Một là, thông tin chính trị chiếm vị trí quan trọng nhất trong sự quan tâm của nhân dân, bởi xuất phát từ tâm lý truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta về ý thức chính trị - xã hội. Mặt khác, các thông tin chung về tình hình đất nước, vận mệnh dân tộc bao giờ cũng có những mối liên quan trực tiếp, gần gũi với lợi ích của mỗi thành viên trong xã hội. Hai là, thông tin, đặc biệt là thông tin chính trị, được khai thác từ internet, nhất là trên các mạng được tái truyền thông mở rộng trong xã hội theo các con đường khác nhau, như: truyền miệng, khuếch tán tiếp trên mạng hoặc chuyển tiếp dưới dạng văn bản in ấn, v.v. Vì thế, loại hình thông tin này có sức lan tỏa mạnh trong xã hội. Ba là, những thông tin chính trị trên internet tồn tại và được bảo toàn như một kho dữ liệu mở cho mọi đối tượng ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Vì vậy, do tính “tự do” tương đối của những chủ thể thông tin, khả năng “gây nhiễu” lại khá rộng,... nên bên cạnh những thông tin chính thống, thì những quan điểm sai trái trên internet có khả năng ảnh hưởng nhanh, rộng đến nhiều đối tượng. Đây là mặt trái của internet, và cũng là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch triệt để tận dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đưa nhiều thông tin tuyên truyền, luận điệu xuyên tạc về nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bôi nhọ lãnh tụ, nói xấu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, đưa các thông tin thất thiệt về kinh tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh,... đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là đối với một bộ phận trí thức và thanh niên, sinh viên - đối tượng thường xuyên tiếp cận với phương tiện này.
Nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet
Đây là việc làm trở nên cấp bách nhằm làm thất bại hệ thống các phương thức chống phá của các thế lực thù địch; góp phần quan trọng trong việc tạo dựng hình ảnh Việt Nam trung thực, gần gũi, thân thiện trong con mắt của bạn bè quốc tế, giúp cho cộng đồng quốc tế hiểu và tin tưởng, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn trong môi trường quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Chính từ ý nghĩa đó, các cấp, các ngành, cơ quan có trách nhiệm phải nhận thức sâu sắc tính quyết liệt, phức tạp, lâu dài, thường xuyên trong cuộc đấu tranh này, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa giữ bên trong với chủ động ngăn ngừa. Giữ bên trong là giữ vững sự ổn định chính trị, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, chủ động ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; ngăn ngừa mọi sự yếu kém, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp lãnh đạo, điều hành Nhà nước. Ngoài ra, trong cuộc đấu tranh toàn diện này, cần nâng cao bản chất giai cấp công nhân, khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn; kiên quyết loại trừ những xu hướng cơ hội, xét lại, hữu khuynh giáo điều, bảo thủ tả khuynh, cũng như mọi biểu hiện sai trái, tiêu cực và tham nhũng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng và toàn xã hội. Đẩy mạnh phát triển, xây dựng tiềm lực kinh tế vững mạnh, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ chính trị, mở rộng hợp tác quốc tế đi đôi với tăng cường quyền tự chủ và an ninh quốc gia.
Thường xuyên cảnh giác, đấu tranh ngăn chặn, bác bỏ mọi luận điệu sai trái, thù địch trên internet
Do sự phát triển của các phương tiện kết nối internet, nên khó có thể cấm đoán công dân khai thác thông tin trong một xã hội thông tin hiện đại. Vấn đề là, chúng ta phải có những giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu sự truy nhập, tìm kiếm thông tin sai trái và tác động của nó đối với nhận thức của những đối tượng tiếp cận thông tin.
Để làm tốt việc này, cần chú trọng một số nội dung: 1. Luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt, nhất là đối với cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên,… để họ giữ vững bản lĩnh chính trị, có phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học. 2. Nâng cao cảnh giác, đấu tranh với những nhận thức không đúng, ngộ nhận, mơ hồ trước các nguồn thông tin ngược chiều với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. 3. Bản thân mỗi người có ý thức tự giác, kỷ luật trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin, tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu, thông tin thất thiệt. 4. Các cơ quan hữu quan, cơ quan chuyên trách cần có sự phân loại thông tin, điều chỉnh những cách thức đấu tranh, hạn chế, bài trừ cho phù hợp. Theo đó, đối với nguồn tin do những phần tử phản động tự tổ chức khai thác, đăng tải trên internet và trên các trang báo mạng quốc tế, chúng ta khó chi phối do hoàn toàn không nắm thế chủ động và không thể tác động trực tiếp bằng luật pháp hay các công cụ quản lý khác, thì có thể hạn chế bằng cách: Một là, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ những thông tin đó xuất phát từ nguồn nào, nếu thấy bất lợi, cần thiết dùng biện pháp kỹ thuật ngăn chặn kịp thời. Hai là, để tạo sức đề kháng cho mỗi cư dân mạng trước các thông tin sai trái, thù địch, phải đẩy mạnh cung cấp, cập nhật và tích cực truyền bá thông tin chính thống để thỏa mãn nhu cầu và quyền tiếp cận thông tin của nhân dân trong nước cũng như người Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tiếp cận thông tin năm 20162Đối với nguồn tin được cung cấp có chủ đích trong nước và nguồn tin từ các cơ quan báo chí, truyền thông, phải thực hiện nghiêm luật và các quy định về giữ bí mật, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, đặc biệt là những người có trách nhiệm chủ trì ở các tòa soạn3. 5. Các bộ, các ngành chức năng phối hợp tổ chức tốt công tác nắm tình hình, phản ứng của các nước về đường lối chính trị, kinh tế, chính sách đối ngoại,… của Việt Nam; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch đối với nước ta, v.v. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, nhất là các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận. Ngoài ra, tăng cường hợp tác văn hóa thông tin với các nước, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế nhưng cần giữ thế chủ động; đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia nhưng không làm tổn hại đến quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước.
Đẩy mạnh hoạt động trên internet của báo chí, truyền thông
Inetnet đang trở thành phương tiện hiện đại và phương thức mang lại hiệu quả cao cho các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, phổ biến và góp phần đưa các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Bởi vậy, báo chí, truyền thông phải là lực lượng đi đầu, công cụ sắc bén trong công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên internet. Thông qua internet, các cơ quan báo chí, truyền thông phải tích cực khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam và tính đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết để hoàn thành mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời, làm rõ cơ sở khoa học của đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đoàn kết dân tộc, dân chủ, nhân quyền, về hệ thống chính trị - Nhà nước của dân, do dân và vì dân; những thành tựu, hạn chế cũng như những bài học kinh nghiệm đổi mới và hội nhập quốc tế.
Lợi dụng chủ trương đổi mới, mở cửa, các thế lực thù địch tấn công vào định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, khuyến khích xu hướng thị trường tự do và tư nhân hoá tràn lan, tách rời sự quản lý của Nhà nước, từng bước làm cho nền kinh tế nước ta lệ thuộc vào nước ngoài. Vì thế, báo chí, truyền thông phải là những kênh thông tin đa dạng, nhiều chiều, với phạm vi thông tin rộng, lượng thông tin lớn và kịp thời, phù hợp, góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, làm cho truyền thống ấy được hoà nhập và nâng cao, trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo động lực mạnh cho sự phát triển và hội nhập của đất nước.
Trong cuộc đấu tranh này, đội ngũ phóng viên báo chí và cộng tác viên của các cơ quan báo chí, truyền thông là những “chiến sĩ xung kích” cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng dũng cảm, ý chí chiến đấu bảo vệ lợi ích dân tộc và công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước. Cùng với đó, hiệu quả của cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch còn phụ thuộc phần lớn vào tài trí của đội ngũ những người tác nghiệp trên internet. Điều đó được thể hiện ở chỗ, những bài viết vạch trần được bản chất, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, góp phần đắc lực và hiệu quả cho việc triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên tinh thần Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Muốn vậy, lực lượng này cần được thường xuyên trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trước hết là được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Các thông tin được đưa ra và đăng tải trên internet, các trang mạng hay blog phải trung thực, khách quan; cách tiếp cận sự kiện, nêu vấn đề cần phải đứng trên lợi ích lâu dài của đất nước, dân tộc, mang tính xây dựng, nói cái xấu để khắc phục, nêu cái tốt để khuyến khích phát triển.
Về lâu dài, Nhà nước cần xây dựng hệ thống truyền thông phong phú, đa dạng, đảm bảo đủ sức mạnh và khả năng đáp ứng một cách tích cực các nhu cầu thông tin ngày càng tăng của nhân dân; có đủ khả năng và sức mạnh tham gia vào hoạt động giao lưu quốc tế. Nó phải có khả năng tiếp nhận, xử lý và khuếch tán vào dòng thông tin truyền thông quốc tế một lượng thông tin đủ lớn, đủ mạnh để tạo ra một tiếng nói công bằng, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước, phát huy và bảo vệ những lợi ích kinh tế, định hướng chính trị, giá trị văn hoá của dân tộc, quốc gia và chế độ. Muốn vậy, cần tăng cường, đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật, bảo đảm phát huy tính hiệu quả cao của các cơ quan báo chí, truyền thông; hoà nhập vào trình độ kỹ thuật thông tin thế giới và khai thác hiệu quả các loại hình báo chí, đặc biệt là các loại hình thông tin đang bùng nổ trên internet. Các báo, trang thông tin điện tử phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng, tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút lượng truy cập ngày càng nhiều hơn; chú trọng đổi mới, với nhiều địa chỉ để tạo ra nhiều kênh tiếp xúc khác nhau; xây dựng giao diện riêng cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống. Mặt khác, có biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn các website, blog, báo, thư điện tử độc hại trên internet và trên mạng điện thoại di động, nhằm hạn chế những thông tin xấu, độc tác động đến quần chúng nhân dân
Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị, cần được triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên, sẽ góp phần hữu hiệu ngăn chặn, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ tốt đẹp mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng.
TS. NGUYỄN CHÍ THẢO, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
__
_____________
1 - Cimigo là tập đoàn chuyên về lĩnh vực Nghiên cứu, Khảo sát Thị trường và Thương hiệu; hoạt động tại Việt Nam, Mỹ và nhiều quốc gia khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
2 - Nguyễn Mai Trang - Xác định phạm vi bí mật Nhà nước để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân, http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi, ngày 16-11-2017.
3 - Nguyễn Minh Phong - Bảo đảm an ninh thông tin trong hội nhập, http://www.nhandan.com.vn/chinhtri, ngày 05-11-2017.

Người yêu nước cần tỉnh táo, đừng để kẻ xấu lợi dụng để vi phạm pháp luật


Trong những ngày gần đây, sau khi Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, lùi thời gian thông qua Luật Đặc khu, dư luận trong nước và ngoài nước đều quan tâm. Thế nhưng, núp dưới chiêu trò “phát huy lòng yêu nước”, một số thế lực thù địch đã kích động người dân tụ tập đông người, tuần hành ở một số địa phương, nhất là ở tỉnh Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10 và 11-6-2018. Ở Bình Thuận, một số người thiếu kiềm chế, có hành vi quá khích, phá hoại tài sản công, đập phá công sở, đốt xe, phản kháng bằng vũ lực đối với người thi hành công vụ. Những hành vi này, đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc.
 Hình ảnh những đám đông, gây rối trật tự công cộng, giơ khẩu hiệu phản đối Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (tại Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc) và Luật An ninh mạng, … lập tức được nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây, như: BBC, RFA, VOA, RFI,… phát tán rộng rãi, thổi phồng khiến cho không ít người nghĩ rằng Việt Nam đang diễn ra bất ổn lớn về chính trị! 
 Điều cần phải làm rõ là – vì sao sau khi trên diễn đàn Quốc hội, ngày 8 tháng 6, Chính phủ đã thống nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội lùi thời gian thông qua Dự Luật Đặc khu sang kỳ họp thứ 6 (cuối năm 2018) để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm đáp ứng các yêu cầu, nguyện vọng của các đại biểu Quốc hội và nhân dân, phù hợp tình hình thực tiễn, đảm bảo giữ vững an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia nhưng vẫn diễn ra những cuộc tụ tập đông người, bất hợp pháp gây rối trật tự, an toàn xã hội?
Ở thời điểm diễn ra vụ việc và sau đó, trong các cuộc tiếp xúc cử tri, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhận được ý kiến của người dân ở cả 3 miền đất nước. Các cử tri hoan nghênh Quốc hội đã lắng nghe ý kiến của cử tri, các nhà khoa học và nhân dân, tạm dừng thông qua Dự luật Đặc khu, đồng thời bày tỏ thái độ bất bình đối với các đối tượng gây rối. Có người nói: “Cử tri rất bất bình về vấn đề này, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan, bộ, ngành, địa phương xem xét xử lý nghiêm minh các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, tham gia kích động, gây rối, phá hoại tài sản nhà nước”1. Khách quan xem xét vụ việc, phần lớn người tham gia đám đông, gây rối chỉ theo cảm tính, nhẹ dạ cả tin. Nhiều người đơn giản nghĩ rằng, mình tham gia xuống đường là bày tỏ “lòng yêu nước”, bày tỏ mối quan tâm đối với an ninh Quốc gia, với chủ quyền Dân tộc, v.v. Tinh thần cảnh giác cao đối với các thế lực thù địch, chia sẻ trách nhiệm đối với Đảng và Nhà nước là điều rất đáng trân trọng và cần được nuôi dưỡng, phát huy.
Tinh thần cảnh giác cách mạng, lòng yêu nước của người dân đã bị lợi dụng.
Thứ nhấtnhững kẻ dẫn dắt đám đông đã kích động người dân, che giấu sự thật, cố tình xuyên tạc quan điểm của Đảng và Chính sách của Nhà nước.  Khẩu hiệu được những kẻ cầm đầu in sẵn từ trước, tán phát là: “ Phản đối Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng”; “stop đặc khu”, “stop Luật An ninh mạng”. Những người biểu tình còn hô to: “vì độc lập, phản đối đặc khu”, “vì tự do, phản đối luật an ninh mạng”, v.v.
Về Dự luật Đặc khu, trước hết đây đang là một văn bản Dự thảo trình Quốc hội xem xét. Nhiều vấn đề còn đang trao đổi, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ. Đối với trường hợp cho thuê đất 99 năm, theo dự thảo Luật thì trường hợp này chỉ áp dụng đối với những trường hợp đặc biệt. Đó phải là công trình vô cùng tiêu biểu, đầu tư rất lớn, đòi hỏi chi phí rất cao, thu hồi vốn rất chậm mà đất nước cần công trình đó. Đối với những công trình cho thuê 99 năm quy trình xét duyệt hết sức chặt chẽ, nghiêm túc: “Trước khi Thủ tướng quyết định, phải trình Ban Cán sự Đảng, Chính phủ, Bộ Chính trị, Thường vụ Quốc hội và nhiều cơ quan khác”2. Như vậy, hoàn toàn không có chuyện Luật Đặc khu “vi phạm độc lập”, “chủ quyền của Dân tộc” và cũng không phải Luật này nhằm giao cho những quốc gia nào đó có sẵn như những kẻ dẫn dắt đám đông hoặc thông tin trên xã hội ảo tuyên truyền.
Thứ hai, những hành vi vi phạm an ninh Quốc gia, kích động người dân, làm ảnh hưởng xấu đến đường lối đối ngoại của Đảng như thế nào? Không phủ nhận rằng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Hoa Kỳ đã từng có những bước thăng trầm. Song, chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai vì sự phát triển của đất nước. Thế nhưng, những phần tử cực đoan chống Việt Nam vẫn khai thác những mâu thuẫn này nhằm phá hoại quan hệ quốc tế của Nhà nước ta. Đảng ta luôn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; coi trọng phát triển quan hệ ổn định, lâu dài với các quốc gia, trong đó có Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nay là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được nhận thức chung về các phương hướng thúc đẩy quan hệ phát triển ổn định, bền vững. Những khẩu hiệu trực diện chống Trung Quốc, kỳ thị với Trung Quốc trên thực tế là đi ngược lại quan điểm của Đảng, Nhà nước và lợi ích của Dân tộc ta.
Thứ bahậu quả những hành vi vi phạm an ninh Quốc gia, trật tự công cộng như thế nào? Những hành vi nói trên đã gây tổn thương không đáng có đến một trong những giá trị lớn của Dân tộc, đó là: sự ổn định chính trị xã hội. Như chúng ta biết, sau những vụ việc đáng tiếc xảy ra vừa qua, có nhiều khách du lịch đã rút ngắn hoặc cắt bỏ nhiều chuyến du lịch đến Việt Nam; nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã cân nhắc lại môi trường chính trị, xã hội của Việt Nam. Nếu như trước đây, lợi thế của Việt Nam là nhân công rẻ và chính trị xã hội ổn định thì ngày nay, những vụ việc nói trên đã xóa đi phần nào hình ảnh về một Việt Nam yên bình, là nơi đến an toàn “đáng sống” trên thế giới.
Thứ tư, nhận diện những kẻ “đóng vai” người yêu nước, dẫn dắt đám đông gây rối là ai? Trong số hơn hai trăm người bị cơ quan chức năng bắt tại hiện trường vì hành vi gây rối trật tự công cộng và một số bị khởi tố cho thấy, hầu hết họ là những đối tượng nhân thân xấu, đã có tiền án, tiền sự, không có công ăn việc làm, văn hóa thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật, dễ bị kích động và đặc biệt là còn rất trẻ. Chẳng hạn, 03 thanh niên trẻ mặc sắc phục (giả) Công an bị lực lượng nghiệp vụ Công an Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh phát hiện đều khai rằng: dùng sắc phục Công an nhằm trà trộn vào đám đông để gây rối, làm như chính lực lượng An ninh cũng phản ứng với dự luật Đặc khu và Luật An ninh mạng. Hoặc 04 đối tượng khác dùng tuýp sắt đập phá ô tô, công sở trong cuộc gây rối ngày 10-6-2018 ở thành phố Hồ Chí Minh cũng còn trẻ và đã có tiền án, tiền sự, như: Nguyễn Văn Tuấn (30 tuổi, quê Bắc Giang, có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản), Nguyễn Huỳnh Đức (18 tuổi, quê Sóc Trăng), Bùi Văn Tiến (17 tuổi, quê Tiền Giang) và Trương Ngọc Hiền (21 tuổi, quê Thừa Thiên - Huế) đã bị khởi tố về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản.
Đáng chú ý, trong cuộc tụ tập đám đông, gây rối trật tự công cộng còn có William Nguyễn (người Mỹ gốc Việt). Ông này sinh ở bang Texas, tốt nghiệp đại học Yale. Trước khi bị bắt, William Nguyễn đã tải lên tài khoản Twitter của mình một số hình ảnh “livestream” của cuộc biểu tình ngày 10-6. Khi tham gia đám đông, William Nguyễn ngang nhiên hô hào đòi hủy Luật Đặc khu; quay video bằng điện thoại thông minh, giơ khẩu hiện (được chuẩn bị sẵn) xuyên tạc “tự do Việt Nam”, lên xe chuyên dụng, cản trở cơ quan chức năng làm việc. Hành vi đó, đã bị Cảnh sát can thiệp và bị khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng. Xem xét nhân thân những đối tượng bị bắt, người ta thấy đó là những phần tử xấu, không loại trừ có thế lực chính trị đứng sau cho tiền, ra lệnh chỉ đạo từ nước ngoài nhằm lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân ta để thực hiện mưu đồ đen tối, nguy hiểm chống phá Đảng, chế độ, Nhà nước và nhân dân ta.
Trong dịp tiếp xúc với cử tri các quận: Thanh Xuân, Hà Đông, Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (ngày 15-6-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Việc kích động phản đối dự án Luật này để thể hiện lòng yêu nước… bản chất sâu xa là xuyên tạc sự thật, kích động lòng yêu nước chân chính của người dân, để âm mưu làm việc xấu; cần nghiêm trị những kẻ lợi dụng việc này để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc”. Tổng Bí thư mong muốn cử tri, nhân dân cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ. Đồng chí nhấn mạnh: “Đảng ta là Đảng của Bác Hồ, không có mục đích nào khác là vì nước vì dân, không ai dại dột, ngây thơ giao đất cho người nước ngoài để người ta vào đây làm rối mình, cho nên phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, đập tan âm mưu phá hoại của các phần tử chống đối. Đảng cộng sản Việt Nam  không có mục đích nào khác là vì nước, vì dân”3.
Lòng yêu nước là một truyền thống quý báu, giá trị chính trị tinh thần quý báu nhất của Dân tộc ta. Ngày nay, giá trị đó cần được trân trọng, bảo vệ và nuôi dưỡng. Trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực, trong nước đã và đang thay đổi lớn, lòng yêu nước ngày nay cần phải dựa trên đường lối chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, luôn tỉnh táo, không để kẻ xấu lợi dụng và đặc biệt phải đặt niềm tin sâu sắc vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam.
BẮC HÀ
______
1 - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc - Phải lập lại trật tự, bảo đảm an ninh an toàn cho xã hội, Chính phủ-18-6- 2018, 12:30 GMT+7
2 - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc - Phải lập lại trật tự, bảo đảm an ninh an toàn cho xã hội, Chính phủ-18-6-18 12:30 GMT+7
3 - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Không có mục đích nào khác là vì nước vì dân , TTXVN/Vietnam+ 17-6-2018, 18:46 GMT+7

Vẫn luận điệu xuyên tạc cũ rích về tình hình tôn giáo ở Việt Nam


Ngày 29-5-2018, Bộ Ngoại Hoa Kỳ công bố Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo thế giới năm 2017 đề cập đến những “vi phạm tự do tôn giáo” tại 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trước đó, ngày 25-4-2018, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF), cơ quan tham vấn chính sách Tôn giáo Đối ngoại của Chính phủ Mỹ cũng đã công bố Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế 2017. Cũng như Báo cáo của Bộ Ngoại Mỹ, Báo cáo của USCIRF tiếp tục đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Trong phần đánh giá về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo thế giới 2017 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và pháp luật; thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, Báo cáo cho rằng, chính quyền tiếp tục “đàn áp” những tổ chức tôn giáo không chịu sự kiểm soát của Nhà nước. Pháp luật Việt Nam với những điều khoản “mơ hồ cho Nhà nước kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa gọi là bảo vệ an ninh quốc gia và duy trì đoàn kết dân tộc”. Cán bộ an ninh một số địa phương gây sức ép, ngăn chặn hoạt động của các tổ chức tôn giáo chưa được cấp phép đăng ký hoạt động. Chính quyền “quấy rối, cản trở” sinh hoạt của tín đồ Công giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai. Còn trong Báo cáo thường niên của USCIRF, mặc dù đã công nhận Việt Nam có những bước tiến trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, nhưng Báo cáo này lại đánh giá sai lệch, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, khi cho rằng: mặc dù Chính phủ đã nhìn nhận sự đa dạng của tôn giáo nhưng lại chỉ chấp nhận hoạt động của những tôn giáo đã được đăng ký với Chính phủ. Chính quyền “đã gia tăng bắt bớ các blogger, những nhà hoạt động xã hội dân sự và cả những người theo các tôn giáo không được nhà nước thừa nhận”. Báo cáo của USCIRF đã đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo (CPC) vì có những đàn áp nghiêm trọng nhằm vào tôn giáo trong năm 2017”.
Vì sao Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục lặp lại luận điệu xuyên tạc cũ rích về tình hình tôn giáo ở Việt Nam như vậy? Bởi cũng như USCIRF, Bộ này đã lấy thông tin chủ yếu từ một số nghị sĩ cực đoan Mỹ, những cá nhân bất mãn, chống đối trong nước và các tổ chức phản động lưu vong, tổ chức phi chính phủ quốc tế thường lợi dụng dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam cung cấp để xây dựng Báo cáo. Đó là các thông tin bị bóp méo, xuyên tạc, phản ánh sai lệch tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cả Bộ Ngoại giao Mỹ, USCIRF đã cố tình áp đặt những định kiến chủ quan của họ để đưa ra những nhận xét sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, bất chấp những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Suy cho cùng, mục đích ra Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và USCIRF là nhằm hậu thuẫn, tiếp sức cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật núp dưới vỏ bọc “đấu tranh cho tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp nội bộ nước ta. Quan niệm khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo giữa các quốc gia là điều bình thường, nhưng điều cần nói ở đây là Chính phủ Mỹ không có quyền áp đặt mô hình tôn giáo của mình cho các quốc gia khác trong đó có Việt Nam, điều đó chỉ làm tổn hại đến quan hệ đối tác toàn diện đang phát triển hết sức tốt đẹp giữa Mỹ và Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhất quán chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay từ ngày mới thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định:“Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Kế thừa, phát triển quan điểm chỉ đạo của Người, Đảng ta đã khẳng định: Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Trên cơ sở thể chế hóa quan điểm của Đảng, luật pháp quốc tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến pháp 2013 đã khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24); Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14); nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.Điều này hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế quy định trên lĩnh vực này, như Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị năm 1966 đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng”, “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (Điều 18). Đặc biệt, việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là cơ sở pháp lý quan trọng khắc phục những bất cập, tồn tại của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước tạo thông thoáng, minh bạch, tạo cơ chế pháp lý nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trên lĩnh vực này; hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế.
Với những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, có thể dễ dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay. Theo thống kê sơ bộ, từ 6 tôn giáo với 16 tổ chức tôn giáo (năm 2005), hiện nay ở nước ta đã có 15 tôn giáo với 41 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 25 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 83 nghìn chức sắc, nhà tu hành, gần 134 nghìn chức việc, 27 nghìn cơ sở thờ tự (năm 2017). Các tôn giáo đã có hệ thống đào tạo quy mô trong cả nước, trong đó, Phật giáo có 04 Học viện, 35 trường Cao đẳng, Trung cấp Phật học; Công giáo có 07 Đại Chủng viện; Tin lành có 01 Viện và 01 trường Thánh kinh Thần học, v.v. Các địa phương đã giải quyết cơ bản việc lập hồ sơ, xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo; thủ tục hành chính giải quyết nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ chức sắc theo cơ chế “một cửa” diễn ra công khai, nhanh gọn. Các cơ sở thờ tự tôn giáo được chính quyền các cấp tạo điều kiện tu sửa, nâng cấp và xây mới. Ngày càng nhiều các chức sắc, nhà tu hành tham gia quản lý nhà nước và xã hội, là đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nhà nước tạo điều kiện cho nhiều đoàn tôn giáo quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam và cho phép nhiều đoàn chức sắc tôn giáo trong nước đi thăm, làm việc ở nước ngoài. Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin; Nhà nước đã cấp phép xuất bản kinh sách bằng các tiếng dân tộc và bằng song ngữ Việt với nhiều quốc gia, v.v. Hằng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức trên toàn quốc. Đồng bào các tôn giáo thực sự trở thành lực lượng quan trọng hưởng ứng các phong trào Thi đua yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, tích cực đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Những năm qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ, cam kết quốc tế về quyền con người, như: Đảm nhận tốt vai trò thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018; tham gia tích cực, có trách nhiệm Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR), đồng thời thực hiện đầy đủ các cam kết và nghĩa vụ theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đặc biệt là thực hiện 182 khuyến nghị theo Cơ chế UPR chu kỳ II mà Việt Nam chấp thuận nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền con người. Việc làm đó, đã thể hiện Việt Nam là một quốc gia tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, được Liên hợp quốc đánh giá cao. Đó là bằng chứng sinh động nhất khẳng định mạnh mẽ nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người; trong đó, có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và là một sự thật khách quan không ai có thể phủ nhận được. 
Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật, đồng thời nghiêm cấm hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của công dân. Thời gian qua, các cơ quan chức năng ở một số địa phương, như: Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai,… đã bắt giữ, xử lý một số chức sắc, tín đồ tôn giáo và công dân vì đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của người dân, truyền bá mê tín dị đoan, phát triển tà đạo, tạp đạo hoặc các tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước chứ không hề có chuyện chính quyền “đàn áp, bắt bớ” trái pháp luật các tín đồ, chức sắc tôn giáo như Báo cáo đã nêu. Đó là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà ở các quốc gia khác kể cả ở Mỹ nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự công cộng. Cũng như mọi hoạt động bình thường khác, việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Các tôn giáo ở Việt Nam muốn phát triển được đều phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam. 
Mỹ là quốc gia tự cho mình luôn đảm bảo tự do tôn giáo thì cũng là nơi bị lên án vi phạm quyền này. Điển hình là Hội đồng Giám mục Mỹ đã nhiều lần tố giác đạo luật tại một số bang ở Mỹ đe dọa hoặc kỳ thị các tín đồ Ki-tô, đặc biệt là Công giáo, như luật buộc các tổ chức Công giáo phải trả bảo hiểm ngừa thai cho các nhân viên. Đặc biệt, sau sự kiện khủng bố xảy ra ở Mỹ ngày 11-9-2001, hiện tượng “bài Hồi giáo” ngày càng diễn ra phổ biến tại Mỹ. Chính Richard Rorty, triết gia nổi tiếng người Mỹ đã nói: Nếu chủ nghĩa phát xít đến Hoa Kỳ, nó sẽ liên kết với sự cố chấp tôn giáo. Tôi thú nhận rằng nếu phải đánh cược nước nào tới đây sẽ bị phát xít hóa, chắc tôi chọn Hoa Kỳ”. Điều đó cho thấy, ngay nội tại nước Mỹ cũng vẫn diễn ra các vụ việc vi phạm quyền tự do tôn giáo của người dân. Vậy thì hà cớ gì mà Chính phủ Mỹ có quyền đi phán xét vấn đề tôn giáo của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam ?
Nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng phát triển, Nhà nước ta luôn hoan nghênh các chính khách Hoa Kỳ và đại diện USCIRF tới thăm, làm việc tại Việt Nam để tăng cường sự hiểu biết và có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, tránh đưa ra những đánh giá sai lệch, xuyên tạc vấn đề này ở Việt Nam như các Báo cáo thường niên vừa qua đã nêu.
TÂN LONG

Nhận diện một số thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên in-tơ-nét, mạng xã hội và giải pháp phòng, chống


Cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, mấy năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng in-tơ-nét (interrnet), mạng xã hội để tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, chế độ ta, với những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc. Vì thế, nhận diện và đấu tranh làm thất bại mưu đồ đó của chúng là giải pháp cấp thiết hiện nay.
Những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của in-tơ-nét, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích không thể phủ nhận; từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin cho mọi người và đang thâm nhập vào cuộc sống của con người trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, in-tơ-nét, mạng xã hội trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, in-tơ-nét, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước nói chung, Quân đội ta nói riêng.
Nhận biết được điều đó, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài,… triệt để lợi dụng in-tơ-nét và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài,… bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Qua đó, chúng thực hiện các biện pháp, thủ đoạn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá ta một cách quyết liệt, tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn, làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng rằng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, chế độ. Nổi lên một số thủ đoạn mới đáng chú ý là:
Thực hiện Live stream trực tiếp để kêu gọi cộng đồng mạng can thiệp vào nội bộ hoặc tham gia bình luận trái chiều trên mạng xã hội. Đây là thủ đoạn dùng tài khoản Facebook với công cụ Live stream để phát videoclip trực tiếp về một sự việc do chúng dựng lên hoặc “lên sóng” trực tiếp trên mạng xã hội để tạo “diễn đàn” kêu gọi mọi người tham gia bình luận về một vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm. Thủ đoạn này được chúng xây dựng “kịch bản” khá công phu, nội dung chúng quay video phát trực tiếp thường là các vụ việc liên quan đến các cuộc biểu tình, khiếu kiện của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan công quyền. Chủ đề chúng chọn thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực, bức xúc của người dân (môi trường, dân sinh, giải phóng mặt bằng, quan hệ ứng xử của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, thực thi công vụ của các lực lượng chức năng, v.v.). Thời điểm chúng chọn để Live stream thường vào dịp có các sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước (các kỳ họp, ngày lễ, ngày kỷ niệm, nguyên thủ các nước đến thăm Việt Nam,…); qua đó, chúng kêu gọi sự can thiệp của quốc tế và các tổ chức phản động vào Việt Nam, hoặc chúng lồng ghép quan điểm cá nhân, bình luận xuyên tạc, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, kêu gọi sự “phụ họa” của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ. Thông qua đó, chúng “vẽ ra” trong mắt công chúng một Đảng cầm quyền bất ổn, một nhà nước bị chia rẽ cục bộ, một hình ảnh quân đội yếu đuối, công an tham nhũng, v.v.
Cùng với đó, các thế lực thù địch còn sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng. Đây là thủ đoạn lợi dụng việc báo chí chính thống trong nước khi đưa tin đều phải qua quá trình tiếp cận thực tế, kiểm định nguồn tin, biên tập, thông qua mới cho đăng tin, bài. Thậm chí, để bảo đảm tính chính xác của thông tin và tính toán lợi ích của việc đưa tin, một số vấn đề cụ thể nào đó, có thể bị chậm trễ khi đưa tin. Lợi dụng “khoảng trống thông tin” này, chúng phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách” về vấn đề dư luận đang quan tâm, nhất là vấn đề liên quan đến nội bộ Đảng, Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực dưới các dạng như: thông tin sự việc, đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề để bạn đọc suy ngẫm,… (Ai đứng đằng sau “Vũ Nhôm”, “Út Trọc”? Sau Đinh La Thăng là ai vào tù? Ai xếp hàng sau tướng Nguyễn Thanh Hóa,…), với những thông tin trộn lẫn thật giả, kích thích tính hiếu kỳ, tò mò của cộng đồng mạng muốn vào các trang Facebook, Blog và các tờ báo điện tử phản động, gây tâm lý hoang mang, bán tín, bán nghi, v.v.
Làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá Quân đội là thủ đoạn được chúng tiến hành khá “bài bản”. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn videoclip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, cán bộ được cho là “hành hung chiến sĩ”, “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, các vấn đề liên quan đến dân chủ trong Quân đội, quan hệ quân dân,… do chúng tạo dựng nên hoặc các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng chúng đưa ra “làm mới”; hoặc những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan chức năng nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, bình luận một chiều. Thời điểm tán phát để “làm mới” hoặc bịa đặt thường là trước mùa tuyển quân, giao nhận quân, quá trình huấn luyện chiến sĩ mới, trước các sự kiện chính trị của đất nước, Quân đội, v.v. Mục đích của việc tán phát các thông tin, hình ảnh, đoạn clip nêu trên không thuần túy chỉ là sự phản ánh một vụ việc, một con người cụ thể, mà đằng sau đó là âm mưu và sự toan tính hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng muốn đánh vào tâm lý lo lắng, sợ hãi trong nhân dân và thanh niên không muốn nhập ngũ vì sợ vào quân đội sẽ bị “đánh đập tàn bạo”, sẻ trở thành những “quân oan”, hoặc tâm lý chấp nhận “ma cũ bắt nạt ma mới” trong chiến sĩ; qua đó, gây dư luận trái chiều trong xã hội, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, làm giảm sức mạnh chiến đấu, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Quân đội. Từ các thông tin, hình ảnh, đoạn clip bị tán phát, sẽ gây nghi ngờ, làm mất đi hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm niềm tin của một số cán bộ và các tầng lớp nhân dân về môi trường quân đội, cuối cùng là thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội.
Để ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực của những thủ đoạn trên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, Quân đội, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:
Một làtăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch. Nội dung cần tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về nền tảng tư tưởng, lý luận, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm cán bộ, chiến sĩ, mối quan hệ đoàn kết quân dân. Đồng thời, phân tích luận giải làm rõ thực chất đằng sau luận điệu của các thế lực thù địch; đâu là thủ đoạn mới, tính chất nguy hại của nó là gì? để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ cần tiến hành các biện pháp gì, v.v. Qua đó, tạo sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” đối với các tổ chức và cá nhân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch; trang bị cho họ những kỹ năng nhận biết và các giải pháp cơ bản để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.
Hai làphát huy vai trò của các cơ quan chức năng cung cấp thông tin có định hướng rõ ràng. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh việc bị lợi dụng, tạo cớ, xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải “chủ động”, “tiến công” trong định hướng thông tin. Để thực hiện tốt việc này, các cơ quan tuyên giáo, thông tin truyền thông từ Trung ương đến cơ sở cần phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí trong cung cấp, định hướng thông tin, bảo đảm thông tin một nguồn, một chiều, nhanh, chính xác, kịp thời; khắc phục “khoảng trống” hoặc sự chậm trễ trong cung cấp thông tin,… làm sao để thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời đến với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, luôn giữ vai trò chủ đạo, “dòng chủ lưu” trong định hướng dư luận xã hội.
Ba làphát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây là biện pháp quan trọng nhằm khơi dậy tiềm năng và sức mạnh tổng lực của toàn xã hội trong tổ chức đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Để phát huy hiệu quả, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ, công cụ, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.
Bốn làkết hợp chặt chẽ các nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức đấu tranh phù hợp với thực tiễn tình hình. Đây là biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các loại hình đấu tranh nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. Để làm được điều đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh công khai trên báo chí với đấu tranh trực diện trên in-tơ-nét, mạng xã hội; đấu tranh trên báo chí, mạng xã hội với đấu tranh trên thực địa; giữa đấu tranh ngăn chặn sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài với giữ vững sự ổn định từ bên trong nội bộ; giữa đấu tranh chính trị với sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa một số trang mạng, blog, Facebook phản động,… nhằm tạo ra một thế trận vững chắc trong tổ chức đấu tranh trên không gian mạng hiện nay.
Mỗi nhiệm vụ, giải pháp nêu trên có vị trí, vai trò, nội dung và yêu cầu thực hiện khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Do vậy, trong chỉ đạo tổ chức đấu tranh, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ tham mưu giúp việc cần có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh giá tình hình, tổ chức đấu tranh hiệu quả nhất, kịp thời nhận diện và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, giữ vững ổn định đời sống xã hội.
Đại tá, TS. NGUYỄN NHƯ TRÚC, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn

Quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân


Khung pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1. Mối quan hệ giữa quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân. Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (1966) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó, người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”1 đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2. Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, v.v.
Hội nghị triển khai Luật Báo chí 2016 khu vực các tỉnh phía Bắc.
Ảnh: nhandan.com.vn
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyềnvới nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”3. Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”4 là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.
2. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí. Những năm gần đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”, v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”. Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những “người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật của chính họ.
Thực tế trên thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở nước ta, quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bội nhọ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp (2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
TS. CAO ĐỨC THÁI
________________
1 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 18.
2 - Tính đến tháng 6-2017, cả nước có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động; trong đó: 193 báo in, 639 tạp chí, 150 báo điện tử. Số lượng người truy cập internet ước khoảng 64 triệu; Việt Nam đứng thứ 16 trong 20 quốc gia có số lượng người truy cập internet nhiều nhất châu Á.
3 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 15.
4, 5, 6 - Sđd, tr. 14, 15, 8-9.

Chỉ là hoang tưởng, lố bịch và khôi hài

TƯ NGUYÊN
Ngày 7-6-2018, trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Đoàn đại biểu Cấp cao của Việt Nam lên đường đến Canada bắt đầu chương trình tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (Hội nghị) và thăm Canada, trên RFA đã có bài phỏng vấn “Canada hủy cuộc gặp song phương với Thủ tướng Việt Nam?” và nhan đề câu khách này lập tức được đăng tải la liệt trên nhiều trang mạng, facebook của các thế lực thù địch kèm theo thái độ rất hỉ hả, sung sướng!
Trong bài trả lời phỏng vấn, với sự tự tin “tôi với tư cách là một Thượng nghị sĩ”, ông Ngô Thanh Hải ở Canada hùng hồn khẳng định: “Tôi không nghĩ cuộc mời này sẽ đưa Việt Nam lên vị trí quốc tế”, “Việt Nam không được gì cả”, “Sẽ không có cuộc gặp gỡ song phương giữa ông Trudeau và ông Phúc. Ông Phúc có xin nhưng họ cho biết sẽ không gặp”... Ông nghị xác quyết như vậy vì khi biết tin đoàn Việt Nam được mời đến Canada, ông “đã gửi thư cho Thủ tướng Canada và Bộ Ngoại giao Canada để cho họ biết đây là một hành động vô trách nhiệm của Canada”, “các tổng thống và thủ tướng các nước tham dự buổi gặp gỡ thảo luận về biển sạch và môi trường cũng nhận được thông cáo của tôi rồi. Tất cả các tòa đại sứ đều nhận được hết”, và vì ông “luôn luôn làm việc rất chặt chẽ, luôn luôn tiếp xúc với Bộ Ngoại giao và Chính phủ Canada” nên “Chính phủ Canada cũng biết và rất dè dặt khi bang giao, thương mại với Việt Nam”!
Nhưng trên thực tế, mọi sự lại diễn ra trái ngược với điều ông Ngô Thanh Hải nói. Vì tại Hội nghị, Thủ tướng Việt Nam có bài phát biểu quan trọng được nước chủ nhà Canada và nhiều nước tham dự đánh giá cao, bày tỏ sự ủng hộ với các sáng kiến do Việt Nam đề xuất, cũng như lập trường của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Trong khuôn khổ Hội nghị, Thủ tướng đã có các cuộc gặp gỡ song phương, trao đổi ý kiến với Thủ tướng, Tổng thống các nước Nhật Bản, Na Uy, Pháp, Italia, Bangladesh, Argentina, Haiti, Senegal, Nam Phi; tiếp Tổng Thư ký LHQ, Tổng Giám đốc Ngân hàng Thế giới, Tổng Giám đốc Quỹ tiền tệ Quốc tế... Với Canada, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hội kiến Toàn quyền Canada J. Payet, hội đàm chính thức với Thủ tướng Canada J. Trudeau, thăm Đại học Laval và dự buổi trình diễn “Công nghệ thông minh cho tương lai”, tham dự và phát biểu ý kiến tại cuộc tọa đàm của doanh nghiệp Việt Nam - Canada, chứng kiến Việt Nam và Canada ký kết một số thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đầu tư… Cần đặc biệt nhấn mạnh là tại cuộc hội đàm, Thủ tướng Việt Nam và Thủ tướng Canada nhất trí tiếp tục phối hợp thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện theo hướng ngày càng thực chất, hiệu quả, nhất trí các biện pháp thúc đẩy quan hệ chính trị - ngoại giao; thương mại, đầu tư và phát triển; quốc phòng - an ninh, giáo dục - đào tạo, lao động và khoa học - công nghệ, văn hóa, thể thao, giao lưu nhân dân và quan hệ địa phương…
Tất cả các sự kiện kể trên cho thấy các nước trên thế giới tiếp tục đánh giá cao vai trò, vị thế và đóng góp tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam vào các vấn đề quan tâm chung của thế giới và khu vực; đồng thời cho thấy quan hệ Việt Nam - Canada đã có bước phát triển tốt đẹp, nên dù và ông nghị Lê Thanh Hải cố gắng chống phá thế nào thì cũng chỉ là hoang tưởng, lố bịch và khôi hài!

Viển vông và lố bịch

TƯ NGUYÊN
Từ chục năm nay, đã vài lần các địa chỉ truyền thông của các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam cùng nhau hớn hở cứ như vớ được vàng khi loan tin Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý được đề cử trao Giải Nobel Hòa bình!
Mỗi lần như thế là họ thi nhau kể lể “thành tích”, ca ngợi Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý như “siêu nhân”, và kèm theo là đủ loại luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí. Hiềm một nỗi, tí tởn vậy song sau khi Giải Nobel Hòa bình được công bố, không mảy may thấy bóng dáng của Thích Quảng Độ hay Nguyễn Văn Lý ló dạng là lập tức họ chưng hửng, rồi cùng nhau im phăng phắc! Tới gần đây từ BBC, RFA,… đến đủ loại trang mạng, facebook của họ lại la liệt tin Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được một ông ất ơ nào đó đề cử để được trao Giải Nobel Hòa bình, và tất cả lại như lên đồng vì sung sướng!
Theo di nguyện của A. Nobel - người lập giải thưởng, thì Giải Nobel Hòa bình dành trao cho tổ chức, cá nhân “đã có đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia, trong việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang, trong việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình”. Theo đó, nếu thật sự cầu thị, những người đề cử Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hẳn phải thấy rõ ràng mấy người họ đề cử hoàn toàn không có bất cứ hoạt động gì liên quan di nguyện của A. Nobel, cũng chẳng có ảnh hưởng gì đến nhân loại, nên khả năng được trao giải là bằng “0”! Nhưng họ vẫn đề cử và đề cử xong là tự sướng, vì vừa được thỏa mãn nhu cầu thắng lợi tinh thần, lại vừa vớ được cơ hội để vu cáo Nhà nước Việt Nam.
Cũng cần nói rằng, việc họ tùy tiện đề cử còn có lý do là mặc dù ý nguyện của A. Nobel như vậy, nhưng trong lịch sử của nó, Giải Nobel Hòa bình từng có một số sự kiện khiến dư luận lo ngại. Trên thực tế, quy định người có quyền đề cử là người từng được nhận giải, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, giáo sư đại học (của một số chuyên ngành nhất định), các thẩm phán quốc tế và các cố vấn đặc biệt của Ủy ban giải thưởng, đã tạo kẽ hở để một số người đưa ra đề cử chưa hẳn là thiện chí, như năm 1935 hai vị giáo sư người Đức và người Pháp đã đề cử B. Mussolini - trùm phát-xít ở Italia; năm 1939, một nghị sĩ Thụy Điển lại đề cử A. Hitler - trùm phát-xít ở Đức. Thậm chí có người nhận Giải Nobel Hòa bình năm trước thì năm sau lại chỉ đạo binh sĩ dưới quyền đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy của nhân dân Philippines chống quân đội nước ngoài chiếm đóng; có người sau khi nhận giải đã phát động chiến dịch tiến công một số nước tại Trung Đông… Trong khi đó, một số người nổi tiếng vì yêu hòa bình, yêu công lý, suốt đời phấn đấu cho các giá trị cao đẹp của loài người như M. Gandhi (1869-1948, người Ấn Độ), C. Chávez (1927-1993, người Mỹ),… lại không được trao giải. Cũng chính vì số người có tư cách đề cử Giải Nobel Hòa bình rất đông nên danh sách đề cử hằng năm khá lớn (như năm 2016 có 376 đề cử, năm 2017 có 318 đề cử), vì thế như kẻ ngủ mơ giữa ban ngày và tương tự như họ từng đề cử Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, việc người ta mơ tưởng Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sẽ được trao Giải Nobel Hòa bình cũng chỉ là viển vông và lố bịch!