Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

SỰ THẬT VỀ “VAI TRÒ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA TRI THỨC TRONG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG”


      
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng thấm sâu và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, điều đó đòi hỏi người công nhân ngày càng có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi. Trong đó luận điểm “Trí thức mới có sứ mệnh lịch sử, là lực lượng tiền phong, có vai trò lãnh đạo cách mạng”, bởi vì theo họ, thời đại ngày nay là thời đại của nền “văn minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó chỉ có trí thức mới có đủ trình độ làm chủ khoa học công nghệ để lãnh đạo cách mạng. Thực chất của quan điểm trên là sự biện hộ cho địa vị thống trị và bóc lột của giai cấp tư sản, biện hộ cho sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận vai trò lịch sử khách quan của giai cấp công nhân, phủ nhận tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vậy thực chất luận điểm trên như thế nào.
Đúng là trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại. Trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vai trò trí thức ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Song, trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân. Bởi lẽ, trong xã hội, trí thức chỉ là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không thuần nhất. Nó không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác. Do đó, trí thức không có hệ tư tưởng riêng. Nó phải phục tùng và chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng của giai cấp nào thống trị xã hội. Do địa vị kinh tế - xã hội của nó, trí thức không thể là người lãnh đạo cách mạng; mặc dù tất cả các giai cấp thống trị trong lịch sử đều cần đến trí thức và đào tạo ra một đội ngũ trí thức của mình để thực hiện vai trò của nó đối với xã hội.
Mặt khác, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng là người làm thuê và bị bóc lột, nhưng lại là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản đào tạo, sử dụng và có một bộ phận được chế độ tư bản ưu đãi. Trí thức không phải là tầng lớp xã hội có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Thực tế lịch sử cho thấy chưa bao giờ có một tầng lớp trí thức nào có thể thay thế một giai cấp để lãnh đạo một cuộc cách mạng xã hội nhằm thay thế chế độ này bằng một chế độ xã hội khác. Trí thức bao giờ cũng là trí thức của một giai cấp nhất định và thường là của giai cấp thống trị xã hội.
Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại nhất của chủ nghĩa Mác. Việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột trong cuộc đấu tranh từng bước xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là lập trường chính trị của những người mácxít. Vì vậy, cần nhắc lại luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, mà nó còn tạo ra nhng người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, nhũng người vô sản”[1]. Luận điểm nổi tiếng đó càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới. Chủ nghĩa tư bản đang điều chỉnh là đang làm cái việc rèn giũa vũ khí sẽ giết mình thêm sắc nhọn hơn; những người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản - giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân sẽ ngày càng nhận thức rõ hơn sứ mệnh lịch sử của mình là loại bỏ chủ nghĩa tư bản ra khỏi đời sống xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản văn minh; xác định rõ hơn con đường, biện pháp để thực hiện sứ mệnh lịch sử vĩ đại đó.
                                                                                                                        HB

[1] C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 605.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH




Đảm bảo sự vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Nguyên tắc đó đã được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo trong quá trình tổ chức, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta. Hiện nay, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình mới. 
Thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng vững mạnh làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Người đã chỉ ra vấn đề hàng đầu đối với xây dựng Quân đội nhân dân là “phải có con đường chính trị đúng”(1); nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(2). Như vậy, theo Hồ Chí Minh xây dựng quân đội về chính trị là gốc, nền tảng, là vấn đề sống còn của một quân đội cách mạng. Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội luôn là lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển; sự chống phá quyết liệt, tinh vi và rất thâm độc của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và đặc biệt đối với quân đội. Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nhiều cấp, nhiều ngành và cả trong lực lượng vũ trang gây ảnh hưởng không ít tới việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội và trong lòng nhân dân.
Vì vậy, để Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối trung thành  với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cần phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh trên một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); “cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”(4), đảm bảo cho quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất, truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Người cho rằng, Đảng là người duy nhất có quyền nắm quân đội, Đảng không chia sẻ quyền đó cho bất cứ một tổ chức, cá nhân nào khác. Đảng lãnh đạo quân đội trở thành nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong xây dựng quân đội. Thấu triệt quan điểm đó, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”(5). Theo đó, cần phải thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; đổi mới và hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương). Đồng thời, phải nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thể chế hóa, hiện thực hóa thông qua Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, thường xuyên xây dựng, củng cố bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội.Vấn đề này có tính chất trọng yếu, cốt tủy, xuyên suốt và được đặt lên hàng đầu trong xây dựng quân đội về chính trị hiện nay. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh, “muốn đánh giặc, phải có quân đội”(6); để tiến lên chủ nghĩa xã hội cần phải “tổ chức ra quân đội công nông”(7). Quân đội là lực lượng chính trị đặc biệt, là công cụ bạo lực sắc bén luôn đi tiên phong trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đề giành và giữ vững chính quyền, các thành quả cách mạng nên quân đội luôn mang bản chất của giai cấp đã tổ chức, xây dựng nó. Ngay từ ngày đầu thành lập đến nay, Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất tốt đẹp của giai cấp công nhân - giai cấp tiên tiến, cách mạng triệt để nhất, có sứ mệnh lịch sử là đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để xây dựng, củng cố bản chất giai cấp công nhân của quân đội, phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng lập trường, bản lĩnh chính trị, thấu suốt đường lối chính trị, quân sự của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội; làm cho họ có giác ngộ cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, có ý chí và quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, “Trong việc chỉnh huấn bộ đội, phải lấy chính trị làm gốc”(8); “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(9). Bên cạnh đó phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống của dân tộc, của Quân đội; xây dựng đoàn kết nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân cho bộ đội. Trong giai đoạn hiện nay, cần làm tốt hơn nữa việc giáo dục mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(10).
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là khâu then chốt trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Bởi vì, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(11). Để xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đặc biệt là cán bộ chính trị cả về bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết 94- NQ/ĐUQSTƯ; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Nắm chắc quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tiến hành các nội dung công tác cán bộ có hiệu quả, đúng quan điểm, nguyên tắc, quy định, quy chế công tác cán bộ của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện chế độ chính sách ưu đãi đối với cán bộ quân đội. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ phải chú trọng cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực hoạt động thực tiễn. Đồng thời phải có chính sách đãi ngộ, chính sách hậu phương quân đội cho cán bộ để họ yên tâm công tác.
Thứ tư, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản giữa quân đội với các tổ chức chính trị xã hội góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Quá trình tổ chức, giáo dục, rèn luyện quân đội, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, chăm lo giải quyết đúng đắn, hài hòa các mối quan hệ cơ bản giữa quân đội với Đảng, Nhà nước; quân đội với nhân dân; các mối quan hệ trong nội bộ quân đội. Theo đó, phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh lạo, Nhà nước quản lý quân đội và quân đội trung thành tuyệt đối, là công cụ bạo lực sắc bén bảo bệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong quan hệ quân dân, một mặt phải xây dựng tình đoàn kết “Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau”(12); mặt khác, phải thấy được trách nhiệm của quân đội với nhân dân: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”(13). Trước tình hình mới, quân đội phải bảo vệ cho được tính mạng, tài sản, quyền làm chủ, cuộc sống bình yên của nhân dân; chủ động, tích cực giúp đỡ nhân dân trong sản xuất, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ phải tuyệt đối chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, kỷ luật quan hệ đoàn kết quân dân; gương mẫu cả về đạo đức, tác phong, lối sống, nêu cao ý thức chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy tắc chuẩn mực xã hội trước nhân dân. Mặt khác, quân đội phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nêu cao tinh thần cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng, không để kẻ thù lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, kích động gây chia rẽ quan hệ giữa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân.
Thứ năm, nâng cao cảnh giác, chủ động phòng, chống có hiệu quả “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tập trung chống phá quyết liệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, làm thay đổi nhận thức tư tưởng, quan điểm của cán bộ, chiến sĩ; gây tâm lý hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến tới làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, làm suy thoái bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội. Do đó, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị với chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái, tiêu cực, bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng. Phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, củng cố lòng tin của cán bộ, chiến sĩ quân đội vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của đường lối đổi mới; tăng cường khả năng miễn dịch, sức đề kháng của cán bộ, chiến sĩ trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; lên án, phê phán các quan điểm tư tưởng sai trái, phản động; khắc phục tình trạng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, hoài nghi, dao động.
                                                                                                                 Văn Sơn

(1) (7) Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 499, 1.
(2) Sđd, tập 1, tr. XVIII.
(3) (10) (12) Sđd, tập 14, tr. 435.
(4) Sđd, tập 11, tr. 365
(5)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐB toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 150.
(6)  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập  6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 5
(8) (9) (13) Sđd, tập 7, tr. 398, 483, 76.
(11) Sđd, tập 5, tr. X

MƯU ĐỒ ẨN DẤU ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU "ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐOÁN, MẤT DÂN CHỦ"



         Vẫn những điệp khúc cũ rích lan tràn trên các trang báo phản động, các thế lực thù địch không ngừng kêu gào, rêu rao rằng, Đảng cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị "độc tài, độc đoán, mất dân chủ". Lý do mà chúng đưa ra là: chỉ có sự "cạnh tranh", "đối trọng" nhiều đảng thì xã hội mới có dân chủ thực sự.
         Phải chăng là như vậy?
Trước hết, chúng ta cần khẳng định rõ: Vấn đề dân chủ của một đất nước không phụ thuộc vào số lượng các chính đảng. Có khi một quốc gia chỉ có một đảng nhưng vẫn bảo đảm và phát huy được dân chủ cho toàn xã hội; có khi một quốc gia có nhiều đảng nhưng đất nước vẫn không có dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất hiện nay đóng vai trò cầm quyền ở đất nước Việt Nam. Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự hy sinh, phấn đấu của toàn Đảng qua các thời kỳ cam go của cách mạng; được nhân dân Việt Nam tin yêu, trao trọng trách dẫn đường phát triển cho cả dân tộc. Đảng dứt khoát không chấp nhận đa nguyên chinh trị và đa đảng đối lập là hoàn toàn phù hợp với điều kiện của xã hội Việt Nam trong bước đường phát triển, là sự phản ánh bản chất của một đảng mác xít chân chính. Đó là một đảng mang trong lòng sự phát triển theo các nguyên tắc của một đảng chính trị tiên phong, trong đó đậm nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; một đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, với vận mệnh của dân tộc; một đảng phát triển trên nền tảng dân chủ và chỉ phát triển vững mạnh khi có chế độ sinh hoạt dân chủ thực sự.
Là Đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam không sa vào “đảng trị”, không chuyên quyền, độc đoán... như các thế lực thù địch thường rêu rao, mà Đảng ta sống và hoạt động trong lòng xã hội, trong lòng nhân dân, được nhân dân kiểm tra, giám sát và chung ý, chung lòng, vì mục tiêu của sự nghiệp phát triển dân tộc. Với sự góp ý xây dựng và sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền chắc chắn sẽ tránh được sự chủ quan, phiến diện trong việc đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Trên thực tế, khi vận hành cơ chế thực thi quyền lực của xã hội trong vai trò cầm quyền, đã có một số tổ chức đảng và đảng viên không chú trọng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng. Đã có sự ngộ nhận hoặc lạm dụng vai trò “cầm quyền” của Đảng, mà không thấy được cái quyền Đảng Cộng sản Việt Nam cầm là quyền từ nhân dân ủy thác cho Đảng; nhân dân luôn đứng ở vị trí tối thượng trong hệ thống quyền lực của đất nước. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Đảng ta là “độc đoán”, “mất dân chủ”. Đó chỉ là những biểu hiện của sự nhận thức và thực hành dân chủ chưa đúng với bản chất của một đảng cầm quyền.
Cùng với đó, Đảng ta hết sức coi trọng công tác dân vận, nhằm thắt chặt hơn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Đảng luôn hòa mình vào cuộc sống sôi động, phong phú trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là biểu hiện sinh động để khẳng định: Đảng Cộng sản việt Nam không “độc tài, độc đoán, mất dân chủ” như các thế lực thù địch thường xuyên tạc, và thực chất đằng sau bức màn phản động đó là mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng đối với dân tộc Việt Nam./.
                                                                                     THAO TRƯỜNG