Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO ĐẢNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM



Lợi dụng việc Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước từ trần, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tán phát nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới; bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Lê Đức Anh. Một trong những luận điệu điển hình đó là, trên trang blog Tiếng dân, đối tượng Trần Văn với bài "Đại tướng không có chỗ trong lòng dân"v.v...
Mục tiêu chính của bọn phản động không phải chỉ dừng lại ở việc nói xấu hạ thấp uy tín của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng nói chung và cá nhân Đồng chí Lê Đức Anh nói riêng, mà cái chính là thông qua đó để xóa bỏ công lao to lớn của Đảng, đi đến làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dần dần xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta đang xây dựng để lái sang chế độ tư bản chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cán bộ, đảng viên của Đảng đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo Đảng và cán bộ, đảng viên mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ và nhiều tấm gương khác …Từ thực tế đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của cách mạng, lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, đánh thắng hai tên đế quốc lớn mạnh, giành độc lập tự do, thống nhất cho quốc gia dân tộc. Khi đó, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên là tốt, nhưng cũng có một số người phạm vào tội lỗi tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án, gọi đó là “giặc nội xâm”, là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Tội lỗi đó làm hại đến tính mệnh và tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, với sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Đảng đội ngũ cán bộ đảng viên đã không ngừng trưởng thành, ngày càng hoàn thiện về nhân cách xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, cụ thể như: biết bao cán bộ, đảng viên Quân đội ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, nhiều cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng ở các cơ quan, đơn vị đã sáng tạo cụ thể hóa đường lối của Đảng để lãnh đạo thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, góp phần vào sự thành công của Đảng trong hơn 30 năm đổi mới. Có được những thành tựu đó trước hết thuộc về vai trò lãnh đạo của Đảng, của toàn dân nói chung và vai trò cá nhân của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng đã hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay.
Như vậy, những luận điệu sai trái trên của bọn phản động chỉ là hình thức bề ngoài của chiến lược "Diễn biến hòa bình" còn thực chất là chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì thế, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu của chúng và phải trừng trị thích đáng với những kẻ phạm tội. Đồng thời phải  thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu và tham gia đấu tranh với những điệu sai trái, không bị mắc mưu hay bị chúng lợi dụng tiếp tay làm sai pháp luật, sai đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đang xây dựng.                     
                                                                                                        P.C



Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954



Phạm Trung
Kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2019) là dịp để mọi người dân Việt Nam ôn lại lịch sử, nhận thức đúng đắn ý nghĩa của sự kiện lịch sử quan trọng này, tránh sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam và thời đại.
Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta nói chung, trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng. Chiến thắng này đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp (1945 - 1954), trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vừa có ý nghĩa bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vừa mở ra một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhân dân Việt Nam tiếp tục được củng cố và phát triển. Chiến thắng là động lực tinh thần to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục giương cao ngọn cờ đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn có ý nghĩa thời đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện khởi đầu, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại, giáng một đòn chí mạng vào thành trì của chủ nghĩa thực dân cũ là Pháp và Mỹ, là động lực tinh thần to lớn cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên giải phóng dân tộc, đấu tranh thoát khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của sức mạnh tổng hợp, tình đoàn kết của các nước Đông Dương, sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế, là chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn.”[1]. Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản vẫn còn điều kiện để tồn tại, nhiều dân tộc trên thế giới vẫn còn bị áp bức, lệ thuộc, cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đang gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với tinh thần và ý nghĩa to lớn của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, toàn thể dân tộc Việt Nam tiếp tục giữ vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.





[1] Hồ Chí Minh (1964), Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, Toàn tập, tập 14, Nxb CTQGST, Hà Nội 2011, tr.315.

LIỆU NHÂN DÂN VIỆT NAM CÓ PHẢI “TRI ÂN CÁC CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM CỘNG HÒA”?



Phạm Trung
Nhân dịp kỷ niệm 44 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, các thế lực thù địch trong và ngoài nước phát tán rất nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta. Trong đó có bài viết “Người Việt phải tri ân các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa” của đối tượng Kiều Dung trên trang blog rfavietnam. Nội dung của bài viết nhằm ca ngợi, cổ súy cho chế độ Việt Nam Cộng hòa và ca ngợi “công lao” các cựu chiến binh của chế độ ấy. Để trả lời câu hỏi: Liệu nhân dân Việt Nam có phải tri ân các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa không? Cần phải nắm chắc bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa và công cụ bạo lực của chế độ ấy.
Chế độ Việt Nam Cộng hòa là chế độ tay sai của Mỹ. Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa được thể hiện ngay từ sự ra đời của nó. Sự ra đời của chính thể “Việt Nam Cộng hòa” không dựa trên một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Năm 1955, chế độ Việt Nam Cộng hòa được Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam không thông qua tổng tuyển cử nhằm thực hiện ý đồ của họ là chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa, v.v..
Người đứng đầu chế độ Việt Nam Cộng hòa khi mới thành lập là Ngô Đình Diệm, một người được CIA (Mỹ) phát hiện, đào tạo và đưa về Việt Nam. Lúc đầu, Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng của chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Y đã từng tuyên bố không có tổng tuyển cử gì hết, vi phạm trắng trợn Hiệp định Geneva và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc. Khi bắt buộc phải tiến hành “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, dựng lên chế độ Việt Nam Cộng hòa, Ngô Đình Diệm đã gian lận. Tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên[1]. Gian lận thành công, Ngô Đình Diệm trở thành quốc trưởng và sau đó làm Tổng thống.
Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa còn được thể hiện ở nội dung bản Hiến pháp Đệ nhất Cộng hòa do Diệm trực tiếp soạn thảo. Theo bản Hiến pháp, Tổng thống Ngô Đình Diệm có đầy đủ quyền lực để triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật không vừa ý, dễ dàng ban hành và thi hành các đạo luật có lợi cho mình. Ngoài ra, Hiến pháp còn ghi rõ, dân tộc có “sứ mệnh” trước “Đấng Tạo hóa”, vừa thể hiện việc lợi dụng tôn giáo để mị dân, vừa chứng minh sự thiên vị của chính quyền Diệm với Thiên Chúa giáo.
Bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa còn thể hiện ở chính sách “cải cách điền địa”. Nội dung của “cải cách điền địa” trái ngược với nội dung chính sách “cải cách ruộng đất” chính phủ cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trước đó. Chính sách “cải cách ruộng đất” của chính phủ cách mạng nhằm hiện thực hóa mục tiêu người cày có ruộng, còn chính sách “cải cách điền địa” của Diệm thì chủ trương tước đoạt đất đai của nông dân, khôi phục lại giai cấp địa chủ để hòng tạo thêm chỗ dựa xã hội cho chế độ phản động.
Đặc biệt, chế độ Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm còn thi hành mạnh mẽ chính sách chống Cộng, áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến cũ và những người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần của nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.
Quân lực và cảnh lực Việt Nam Cộng hòa mang bản chất tay sai. Bản chất của Chính thể Việt Nam Cộng hòa quy định bản chất công cụ bạo lực của nó. Quân lực, Cảnh lực Việt Nam Cộng hòa là lực lượng tay sai, chống đối lại cách mạng, bảo vệ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đàn áp, bóc lột nhân dân, góp phần hiện thực hóa mưu đồ của Mỹ. Đa phần các tướng lĩnh cao cấp của hai lực lượng này đã từng phục vụ trong quân đội Pháp hoặc quân đội “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại để bảo vệ nền thống trị của người Pháp ở Đông Dương.
Quân lực và Cảnh lực Việt Nam Cộng hòa là công cụ bạo lực đắc lực để hiện thực hóa chính sách “diệt cộng” rất dã man của chính quyền. Chúng có những khẩu hiệu nổi tiếng: “đồng tâm diệt cộng”, “tiêu diệt cán bộ nằm vùng”“tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “giết nhầm còn hơn bỏ sót”, v.v. với những ngón đòn tra tấn, giết hại độc ác như thời Trung cổ, chặt đầu, mổ bụng moi gan, giết, hiếp, đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục, v.v..
Nhận thức được bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng như công cụ bạo lực của chế độ ấy giúp chúng ta bác bỏ được luận điệu chống phá của các thế lực thù địch trong đó có bài viết của đối tượng Kiều Dung trên trang blog rfavietnam. Nhân dân Việt Nam không phải tri ân các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa mà ngược lại các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa cần phải xin lỗi và tri ân Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân đã làm cho dân tộc Việt Nam giành được độc lập dân tộc thực sự và phát triển mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam sẵn sàng xóa bỏ hận thù, chào đón những người con Việt Nam một thời lầm lỡ quay trở về xây dựng đất nước.


[1] Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. ABC-CLIO. tr.366.

NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ QUÊN ƠN CHỦ TỊCH NƯỚC, ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH



Phạm Trung
Lợi dụng việc Đại tướng Lê Đức Anh, Nguyên Chủ tịch nước từ trần, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã phát tán nhiều bài viết xuyên tạc, chống phá. Trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Trần Văn đã phát tán bài “Đại tướng không có chỗ trong lòng dân”. Trên blog VOA phát tán bài “Lê Đức Anh làm tướng giỏi, làm chính trị tồi”. Đây là những thủ đoạn chống phá hòng phủ nhận công lao to lớn của Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh.
Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh không chỉ là một chiến sĩ cộng sản, cách mạng kiên trung, người chỉ huy quân sự tài ba mà còn là một nguyên thủ quốc gia với nhiều quyết sách đối nội và đối ngoại quan trọng, góp phần đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh.
Năm 1992, Đại tướng Lê Đức Anh được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch nước Lê Đức Anh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để các cơ quan nhà nước phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ, là đại diện cho quyền lợi và phục vụ hiệu quả những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã chỉ rõ: Để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải đẩy mạnh sản xuất, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực thực hiện tốt chủ trương Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Là một người lính, trực tiếp cầm súng chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, Chủ tịch nước Lê Đức Anh thấu hiểu sự hy sinh, mất mát của hậu phương quân đội. Chủ tịch đã giành sự quan tâm đặc biệt tới những gia đình neo đơn, khó khăn sau chiến tranh, ông là Chủ tịch nước đầu tiên ký quyết định phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Với tư duy chính trị nhạy bén, sắc xảo mang tầm chiến lược, Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã trực tiếp chỉ đạo triển khai các biện pháp trong lộ trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, tạo ra môi trường thuận lợi để Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh.
Có nhiều cống hiến to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân nhưng bản thân Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh không bao giờ có tư tưởng vun vén cá nhân. Ngoài căn nhà được nhà nước cấp, tài sản của Chủ tịch nước Lê Đức Anh dường như chẳng có gì đáng giá, không có vật dụng gì giá trị khoảng 5-7 triệu trở lên. Ông không bao giờ tác động vào công việc của các con và người thân trong gia đình. Ông đã từng bị anh trai ruột của mình giận suốt bốn năm vì không lo việc cho cháu.
Những dấu mốc chính trị quan trọng, phẩm chất và năng lực của Chủ tịch nước Lê Đức Anh là những luận cứ chân thực để bác bỏ luận điệu  “Lê Đức Anh làm tướng giỏi, làm chính trị tồi” trên trang blog VOA. Đảng, Nhà nước, Quân đội, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên ơn Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh.






HIỂU CHO ĐÚNG VỀ MỆNH LỆNH “KHÔNG NỔ SÚNG TRƯỚC” CỦA ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH




Thiện Trí
Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ra đi mãi mãi, để lại lòng kính trọng và tiếc thương vô hạn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trong những ngày này trên các trang thông tin, mạng xã hội đã có rất nhiều câu chuyện, những chia sẻ về cuộc đời hoạt động cách mạng và những công lao to lớn của Chủ tịch nước Lê Đức Anh và cả tình cảm, sự kính trọng của người dân mọi miền đất nước, nhất là những người được sống, công tác, chiến đấu cùng với Người. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tiếng nói lạc lõng, ngược dòng từ những kẻ thua cuộc, những kẻ còn chưa tỉnh ngộ vẫn cố tình tìm cách chống đối sự nghiệp cách mạng. Chúng lợi dụng mệnh lệnh của Đại tướng Lê Đức Anh lúc này là ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ quốc phòng chỉ đạo, Tư lệnh quân chủng Hải quân là đô đốc Giáp Văn Cương: “hết sức kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết táo bạo, với phương châm: có người, có đảo; còn người, còn đảo”, để cắt lấy một đoạn “không nổ súng trước”, một số tài khoản còn xuyên tạc cho rằng Đại tướng Lê Đức Anh đã ra mệnh lệnh “không được nổ súng”, rồi từ đó chúng suy luận mệnh lệnh đó làm cho 64 chiến sĩ của chúng ta ở Gạc Ma đứng yên chờ chết và rằng mệnh lệnh đó là phục vụ tay sai cho Trung Quốc. Đó là sự xuyên tạc bỉ ổi, trắng trợn, chúng tưởng rằng với lập luận đó có thể làm cho quân và dân ta tin được sao? Sự thật đã lên tiếng, rất nhiều cựu chiến binh, các tướng lĩnh có mặt trực tiếp ở những thời điểm đó đã phân tích rất cụ thể toàn cục.
Thiếu tướng Hoàng Kiền – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã kể lại thời điểm đó: Tháng 4/1986 tôi trong đoàn công tác do Phó đô đốc Giáp Văn Cương - Tư lệnh Hải quân dẫn đầu đi kiểm tra toàn bộ quần đảo Trường Sa, đến đảo chìm Thuyền Chài dừng lại cho một tổ vào kiểm tra, chúng tôi phát hiện có mưu đồ của nước ngoài chiếm đóng các đảo chìm của ta. Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ đạo: sẽ có tranh chấp đảo chìm xảy ra, các cơ quan đơn vị cần tìm biện pháp đối phó. Trước tình hình đó Đại tướng Lê Đức Anh đã chỉ đạo Bộ tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Hải quân khẩn trương nghiên cứu phương án đóng giữ các đảo chìm. Nhà C3 bằng cột gỗ thông lấy từ bán đảo Cam Ranh, làm cột, dầm, chống xiên, lát ghi nhôm, lợp vòm tôn được lắp dựng trên đảo Thuyền Chài đầu tiên vào cuối năm 1986. Ngày 3/9/1987 Quốc hội Trung Quốc thông qua quy chế đưa đảo Hải Nam thành tỉnh và sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào Hải Nam. Sau đó họ liên tục cho tầu chiến giả dạng tầu dân sự để khảo sát, trinh sát thăm dò quần đảo Trường Sa của ta nhằm âm mưu xâm chiếm các đảo chìm. Trên cơ sở kế hoạch đóng giữ các bãi đá ngầm tại Trường Sa do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị đã được đồng chí Đỗ Mười, Thường trực Ban Bí thư, phê duyệt, ngày 6-11-1987, Đại tướng Lê Đức Anh ký ban hành Mệnh lệnh số 1679/ML-QP giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân: “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị cấp trên; trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Đá Chữ Thập, Đá Lớn, Đá Tiên Nữ...”. Khi phát hiện Trung Quốc đưa tầu chiến xuống Trường Sa, chúng ta đã đưa Công binh cùng các lực lượng ra với các phương tiện: pông tông, tàu vận tải, tàu đổ bộ LCU và các nhà cao chân C3 để chốt giữ các đảo chìm. Trung Quốc với lực lượng tàu chiến mạnh, số lượng nhiều, ngăn cản, đe doạ, đẩy các tàu nhỏ của ta ra để chiếm đảo. Để đề phòng xung đột quân sự nhỏ trên khu vực Trường Sa có thể bùng nổ thành một cuộc chiến tranh lớn trên biển, Đại tướng Lê Đức Anh chỉ đạo, Tư lệnh quân chủng Hải quân là đô đốc Giáp Văn Cương ra lệnh: “hết sức kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết táo bạo, với phương châm: có người, có đảo; còn người, còn đảo”.
Như vậy, mệnh lệnh “không nổ súng trước” đã được ban hành để tránh khiêu khích đối phương, làm bùng nổ các xung đột gây bất lợi lâu dài, chứ không phải là mệnh lệnh bắt chiến sĩ của ta có súng mà phải đứng yên để cho địch bắn.
Thiếu tướng Hoàng Kiền đã phân tích rõ hơn bối cảnh và lý do để Đại tướng Lê Đức Anh chỉ đạo như vậy là: Việt Nam vẫn đang có xung đột ở biên giới phía Bắc và còn lực lượng giúp bạn tại Campuchia. Về ngoại giao không thuận lợi khi ta đưa quân vào giúp nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng PolPot, các nước cho là Việt Nam xâm lược Campuchia, có những hành động cô lập nước ta. Nền kinh tế đất nước vô cùng khó khăn do đang bị bao vây cấm vận. Lực lương Hải quân tác chiến trên biển xa và chi viện của không quân còn rất hạn chế. Có thể nói, đây là giai đoạn mà Tổ quốc gặp khó khăn nhất. Nếu manh động “nổ súng trước” mà để xảy ra một cuộc chiến lớn trên biển thì hậu quả sẽ khôn lường. Do đó, kiềm chế để “không nổ súng trước”, không để cho đối phương tạo cớ gây xung đột lớn là một chủ trương, quyết định đúng đắn. Ngày 14/3/1988 Trung Quốc đưa nhiều tàu chiến xuống âm mưu chiếm các đảo chìm Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao. Lực lượng Hải quân ta đã đấu tranh kiên quyết. Đối phương với số lượng tầu chiến lớn, số lượng nhiều (9-12 chiếc) đã hung hãn đơn phương gây chiến. Tại Gạc Ma, Quân ta đã cắm cờ, nắm tay nhau đứng vòng quanh quyết bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc. Không thể phá vỡ được “vòng tròn bất tử” của các chiến sỹ Hải Quân nhân dân Việt Nam, chúng rút quân lên tàu xả súng, pháo bắn chìm tàu HQ 604, sát hại 64 chiến sĩ Hải quân rồi chiếm đóng trái phép đảo Gạc Ma. Tiếp theo họ bắn chìm tàu HQ 605 ở Len Đao, bắn cháy tàu đổ bộ HQ 505 ở Cô Lin. Dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Lê Đức Anh, sự chỉ huy của Đô đốc Giáp Văn Cương, bằng các biện pháp linh hoạt, khôn khéo và kiên quyết, ta vẫn đưa tàu kéo, tàu vận tải và lực lượng ra chi viện để giữ Cô Lin và Len Đao.
Thiếu tướng Hoàng Kiền khẳng định: “Không nổ súng trước” không có nghĩa là không được nổ súng chống lại khi bị tấn công”. Không một người chỉ huy nào lại ra lệnh cho bộ đội của mình như thế. Bởi nếu như thế có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện.
Như vậy, sự thật lịch sử cho thấy tất cả những người gán cho Đại tướng Lê Đức Anh với cái lệnh “không được nổ súng” nên để 64 chiến sĩ hy sinh, để mất Gạc Ma là một mưu đồ xấu xa nhằm hạ uy tín, danh dự của Đại tướng Lê Đức Anh, của Quân đội, Nhà nước và Đảng cộng sản Việt Nam (Thiếu tướng Hoàng Kiền)./.


CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU “XÉT LẠI LỊCH SỬ” NHẰM XUYÊN TẠC CÔNG LAO TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC LÊ ĐỨC ANH




Thiện Trí
Xét lại lịch sử là một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống lại Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, điều đó còn bỉ ổi hơn khi chúng công kích vào một lãnh tụ vừa mới từ trần. Theo facebook Hồ Ngọc Thắng: Chủ nghĩa xét lại lịch sử được hiểu là những nỗ lực muốn sửa đổi sự nhìn nhận lịch sử đã được chính trị, xã hội và khoa học công nhận bằng cách trình bày, giải thích và / hoặc diễn giải một số sự kiện theo cách khác biệt so với khoa học lịch sử đương đại, đó là sự giả mạo lịch sử có chủ đích và giả khoa học.
Xét lại lịch sử có tác hại rất lớn, khi mục đích chúng là cố tình xuyên tạc, bóp méo và hạ thấp công lao to lớn của Đại tướng Chủ tịch nước Lê Đức Anh vừa mới từ trần. Một số tài khoản facebook như Le Vu, Việt Tân, Nguyễn Tường Thụy… còn đăng các ảnh kèm bên Đại tướng Lê Đức Anh là một số luận điểm: “ngày 14/3/1988 Trung Quốc đánh chiếm Gạc ma”; “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam ra lệnh “không được nổ súng”” và dưới cùng chúng đưa ra luận điểm “7/5/1988 Tại Trường Sa Đại tướng Lê Đức Anh tuyên bố nhân dân Việt Nam vô cùng biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Trung Quốc”. Rõ ràng ở đây chúng đã cố tình sửa đổi sự nhìn nhận lịch sử bằng cách trình bày, giải thích và diễn giải một số sự kiện bằng cách cắt ghép các câu nói ở các thời điểm khác nhau đưa vào cùng một bức ảnh, như thể là cùng một thời điểm, nguy hiểm hơn chúng còn đưa các trích dẫn như mệnh lệnh “không được nổ súng” một cách sai lệch bản chất. Về điều này trên trang facebook của Thiếu tướng Hoàng Kiền có kể lại chi tiết về sự kiện đó, vạch trần sự trơ trẽn của các luận điệu xuyên tạc. Với cách làm như thế chúng dễ tạo ra được sự nghi ngờ, sự tin tưởng của một số người nhận thức còn hạn chế và không có điều kiện tiếp cận thông tin từ nguồn gốc. Chỉ có nhìn nhận đúng lịch sử, đặt chúng trong đúng bối cảnh của thời điểm, phân tích toàn diện đại cục mới cho chúng ta cái nhìn khách quan, khoa học về những đường lối, chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các đồng chí nguyên thủ quốc gia.
Mỗi người dân chúng ta khi tham gia mạng cần có thái độ rõ ràng, nhìn nhận vấn đề cần khách quan, toàn diện và đi sâu vào điều kiện hoàn cảnh, thòi gian cụ thể gắn với sự kiện để có cái thấy rõ bản chất sự vật và niềm tin, tích cực đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái thù địch, xét lại lịch sử cho dù cả vô tình hay cố ý./.















CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU XÉT LẠI, PHỦ NHẬN CHIẾN THẮNG 30/4



Thanh niên cờ đỏ
Những ngày vừa qua, một số trang mạng xã hội, một số tài khoản của các đối tượng thù địch, phản động, đặc biệt là Ngụy quân, Ngụy quyền ở hải ngoại bằng nhiều thủ đoạn tìm mọi cách xuyên tạc về chiến thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước. Chúng tiếp tục cổ súy tuyên truyền và lôi kéo kích động đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại và tập trung kỷ niệm gọi là ngày Quốc hận. Nguy hiểm hơn một số khác xuyên tạc chiến thắng 30/4 dưới giọng điệu rằng đó không phải là ngày chiến thắng, rằng cuộc Nội Chiến này chỉ người Việt Nam đánh người Việt Nam thì Việt Nam làm gì có chiến thằng?, v.v.. Thoạt nghe, có không ít người trẻ thấy điều đó thuyết phục. Chỉ có những người trong cuộc, đi qua chiến tranh như Trung tướng Anh hùng LLVTNDVN Phạm Phú Thái chia sẻ trên facebook của mình: Tôi chỉ muốn đưa vài hình ảnh để nói rằng Nếu chỉ có Người Việt đánh Người Việt thì ai đã gây ra những cảnh này ?
Làm sao phải có Bức tường ghi danh hơn 58 ngàn quân Mỹ chết trận ở Việt Nam? Làm sao có hàng ngàn máy bay Mỹ bị bắn rơi ở máy bay? Hàng trăm Phi công Mỹ bị tống giam và được trao trả từ tháng 3.1973? Làm sao vẫn còn hàng triệu người bị ảnh hưởng nhiễm độc chất da cam do quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam? Hàng vạn nạn nhân do Bom Mìn mà không quân Mỹ rải xuống mà đến nay chưa làm sạch hết?”. Những con số đó có lẽ không ai có thể chối cãi được, qua đó đã nói lên tất cả. Đã vạch trần cuộc chiến của Đế quốc Mỹ nhằm biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Vậy mà, chúng chỉ cắt một đoạn về lực lượng 2 bên tham chiến trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhằm che đi sự thật đằng sau đó. Phủ nhận chiến thắng 30/4 là bước đầu tiên trong ý đồ sâu xa nhằm tiến tới phủ nhận thành quả cách mạng và xa hơn nữa đi đến quan điểm cho rằng ở thời điểm lịch sử đó chúng ta hoàn toàn có thể tránh được cuộc chiến tranh tàn khốc đó. Trung tướng Phạm Hồng Thái cũng khẳng định: Có thể nói chắc chắn một điều Những người Dân Việt Nam cả hai miền Nam Bắc Thuộc về Bên Thắng Cuộc nhiều hơn lắm lắm những người thuộc bên kia. Vì sao? Vì chính họ đã giúp đỡ, ủng hộ và đứng về Quân Đội và Chính Thể mà đáng lẽ đã giành chiến thắng trước Thực Dân Pháp đó là Quân đội nhân dân Việt Nam hay Quân giải phóng miền nam Việt Nam. Có được sự ủng hộ nhiều như vậy những người Cộng sản và Quân đội của họ mới có thể thắng được Quân đội Mỹ rồi sau đó là Quân đội và Chính Quyền Nguỵ Sài Gòn có Mỹ đứng sau yểm trợ chứ!. Kỷ niệm ngày chiến thắng 30/4 để nhắc lại chúng ta không được quên lịch sử, phải tôn trọng lịch sử và từ đó thấy được trách nhiệm của mỗi người dân đối với hiện tại và tương lai./.