Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY


Kim Ngân

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XII nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”[1]. Đây thực sự là thách thức nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 Theo đó, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm xuyên suốt và cấp bách nhất về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung biện pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan đơn vị cần nắm chắc các nội dung giáo dục, quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên thuộc quyền. Trong đó, chú trọng rèn luyện về phẩm chất năng lực và phương pháp tác phong công tác. Quản lý chặt chẽ cả trên hồ sơ, lý lịch và các quan hệ xã hội, chú trọng quan tâm đến tâm tư nguyện vọng cá nhân và hoàn cảnh gia đình để động viên, giúp đỡ, tạo niềm tin ở họ đối với tổ chức, khi đó đáp lại sẽ là sự nhiệt tình cống hiến của họ. Kịp thời giải quyết những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong mỗi đảng viên cũng như trong tổ chức đảng, không để những biểu hiện tiêu cực lây lan phát triển dẫn đến cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật.
Hai là, mỗi cán bộ đảng viên phải nêu cao tinh thần tự rèn luyện, tu dưỡng về đạo đức lối sống, xác định rõ trách nhiệm chính trị của mình trên cương vị công tác.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc xây dựng bản lĩnh chính trị, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, trau dồi đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên phải được thông qua xác định trách nhiệm của bản thân gắn với thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác là một vấn đề hết sức quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chấp hành nghiêm túc điều lệ và kỷ luật Đảng, thực hiện nghiêm túc những điều đảng viên không được làm, chấp hành pháp luật Nhà nước, gương mẫu giữ gìn và phát huy tính tiền phong gương mẫu, phẩm chất đạo đức lối sống của người cán bộ đảng viên của Đảng trong điều kiện mới.
Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước cho phù hợp với điều kiện mới của đất nước, nhất là các chủ trương chính sách về kinh tế, tài chính, quản lý đất đai, bất động sản nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực tác động vào đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Không để những bất cập của các vấn đề xã hội như chế độ tiền lương, mức thu nhập, cơ hội làm việc, khả năng phát triển kéo theo sự suy giảm trách nhiệm của mỗi cá nhân. Xây dựng quy chế, quy trình cụ thể để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước và đấu tranh chống tham nhũng một cách hiệu quả. Tôn trọng quyền khiếu nại tố cáo của công dân, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những người dũng cảm tham gia đấu tranh chống tiêu cực, đa dạng hóa các hình thức phản biện xã hội, lấy ý kiến nhân dân về những vấn đề trọng đại của đất nước.

Bốn là, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể sát tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lôi kéo làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Để thực hiện tốt vấn đề này, yêu cầu mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, nhạy bén, chủ động trong nắm bắt tình hình, khả năng dự báo chính xác, kịp thời thông tin, định hướng giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh, không để các biểu hiện tiêu cực tác động vào đội ngũ cán bộ, đảng viên đồng thời triển khai nhiều biện pháp chủ động đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc trong đội ngũ cán bộ, Đảng viên.
Trong tình hình hiện nay, tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là yêu cầu, nhiệm vụ, thử thách to lớn; là điều kiện quan trọng để xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cách mạng chân chính, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong mỏi của nhân dân góp phần làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội.
 



[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng  khóa XII. 



NHỮNG SAI LỆCH, THIẾU THIỆN CHÍ TRONG BẢN “PHÚC TRÌNH THƯỜNG NIÊN 2016 VỀ TỰ DO TÔN GIÁO” CỦA HOA KỲ VỀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM


Ngày 15 tháng 8 năm 2017, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo của 199 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, có 29 trang nói về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Mặc dù có một số tiến bộ trong đánh giá và đã ghi nhận Việt Nam đã có những cải thiện về tự do tôn giáo: Hiến pháp Việt Nam quy định tự do tín ngưỡng và tự do thờ phụng theo đức tin là quyền mà người dân được hưởng; Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào ngày 18 tháng 11 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, nhằm đảm bảo thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên thực tế. Tuy nhiên, trong Báo cáo còn có nội dung không đúng sự thật, khi cho rằng, Việt Nam tiếp tục kiểm soát, thậm chí triệt hạ những tổ chức tôn giáo không được sự chấp thuận của Nhà nước, với những điều luật mơ hồ cho Nhà nước rộng quyền hơn trong việc kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, duy trì đoàn kết dân tộc. Nhiều tôn giáo lớn, như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài,... đến các nhóm Tin lành ở vùng sâu, vùng xa đang là đối tượng bị nhà cầm quyền sách nhiễu, cấm đoán. Những người truyền đạo là người dân tộc ở Tây Bắc hoặc ở Tây Nguyên, miền Trung bị đe dọa, buộc phải chối bỏ đức tin; các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và y tế của các nhóm tôn giáo được công nhận tiếp tục bị hạn chế, dù ít nghiêm trọng hơn năm trước.
Để xây dựng Báo cáo này, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lấy thông tin bị xuyên tạc, bóp méo do một số tổ chức phản động lưu vong, cá nhân bất mãn, chống đối trong nước cung cấp. Mặt khác, họ bị chi phối bởi định kiến và sự khác biệt về quan điểm lịch sử, văn hóa đối với các sự việc liên quan tới tôn giáo ở Việt Nam và hơn nữa, họ còn tự cho mình quyền áp đặt mô hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
Tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với quy định của pháp luật”1. Quan điểm của Đảng đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam, như: Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016, Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2017), Luật Tố tụng Hình sự,… và được bảo đảm, tôn trọng thực hiện trên thực tế. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Hiến pháp Việt Nam chỉ nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”, không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này tương thích với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Chẳng hạn như Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (năm 1966) đã nêu: Mọi người có quyền “tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo” nhưng phải chịu giới hạn vì “an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”.
Thực tiễn sinh động và những thành tựu trong hoạt động tôn giáo những năm qua là minh chứng thuyết phục nhất về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Theo thống kê sơ bộ, tính đến năm 2017, cả nước có 40 tổ chức tôn giáo thuộc 14 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cho phép hoạt động với hơn 25 triệu tín đồ (chiếm gần 30% dân số cả nước), 53 nghìn chức sắc, hơn 133 nghìn chức việc, 28 ngàn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo đã có hệ thống đào tạo quy mô trong cả nước, trong đó Phật giáo có 04 học viện, 01 trường cao đẳng và nhiều trường trung cấp Phật học, gần 17 nghìn cơ sở thờ tự; Công giáo có 01 học viện, hàng chục trường đào tạo và hơn 7 nghìn cơ sở thờ tự; Cao Đài có 01 học viện, hơn 1.200 thánh thất, thánh tịnh; Tin lành có 01 trường Thánh kinh thần học, hơn 500 cơ sở thờ tự và trường đào tạo tín đồ. Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin riêng. Nhà nước đã cho phép xuất bản kinh sách bằng các tiếng dân tộc, như: xuất bản Kinh thánh bằng tiếng Ba-na, Ê-đê, Gia-rai; in Kinh Phật bằng tiếng Khơ-me, v.v. Hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tôn giáo được chú trọng, đẩy mạnh. Thời gian qua, Chính phủ đã tạo điều kiện cho các tôn giáo được mở rộng quan hệ quốc tế; cho phép nhiều đoàn tôn giáo quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam và nhiều đoàn chức sắc tôn giáo trong nước đi thăm, làm việc, học tập ở nước ngoài. Việt Nam cũng đã tổ chức thành công nhiều sự kiện tôn giáo lớn, như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) năm 2008 và 2014; Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI (năm 2009), Đại lễ 100 năm Tin lành đến Việt Nam (năm 2011), Diễn đàn Thượng đỉnh Phật giáo ASEAN (năm 2016), v.v. Đại diện các tổ chức tôn giáo Việt Nam đã được tham gia đối thoại, giao lưu trên các diễn đàn lớn, như: Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Việc đăng ký điểm nhóm Tin lành đã được Chính phủ hết sức quan tâm, tạo điều kiện phê duyệt. Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước có khoảng 500 ngàn tín đồ thuộc 31 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành, với hơn 400 ngàn người đang sinh hoạt tại 240 chi hội và 1.300 điểm nhóm đã đăng ký với chính quyền địa phương. Khu vực Tây Bắc hiện có gần 200 ngàn tín đồ, chủ yếu là người Mông sinh hoạt ở hơn 1.300 điểm nhóm. Chính quyền các cấp đã tạo điều kiện cho đồng bào theo đạo Tin lành được sinh hoạt tôn giáo tại gia đình hoặc tập trung theo điểm nhóm. Đến nay, đã có trên 500 điểm nhóm đăng ký sinh hoạt thuộc 6 tổ chức, hệ phái. Từ năm 2013 đến nay, liên tục có các điểm nhóm mới được Nhà nước cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo. Với chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những năm qua, tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã yên tâm, tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các phong trào “ích nước, lợi dân”, phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước.
Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân thực sự được tôn trọng, bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn. Đó là một thực tế rõ như ban ngày, không ai có thể phủ nhận được. Điều này, được cộng đồng quốc tế, trong đó có nhiều chính khách Mỹ đã chứng kiến và ghi nhận. 
Như vậy hoàn toàn không có chuyện pháp luật Việt Nam về tôn giáo “Với những điều khoản “mơ hồ” lại cho Nhà nước rộng quyền hơn trong việc kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa gọi là bảo vệ an ninh quốc gia và duy trì đoàn kết dân tộc” như Phúc trình về tự do tôn giáo thế giới 2016 của Hoa Kỳ viết.
Việc một số cá nhân hoặc một số nhóm tôn giáo bị các cơ quan chức năng xử lý hình sự, trấn áp như bắt Hoàng Đức Bình, Trần Thị Xuân. hoặc nhắc nhở linh mục Đặng Hữu Nam, Nguyễn Đình Thục trong vụ việc cố tình tụ tập đông người gây rối trật tự công cộng, cản trở giao thông trên Quốc lộ 1A ở Diễn Châu, Nghệ An với lý do là “đòi Fomosa bồi thường”, vào tháng 4-2017 (sau vụ Fomosa gây ô nhiễm diện rộng…) là điều tất nhiên, là vì họ vi phạm pháp luật chứ hoàn toàn không phải vì lý do tôn giáo vì họ có đạo. Sự trừng phạt này là vì lợi ích chung của cả xã hội.

Thiết nghĩ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, trực tiếp là những người soạn thảo và thông qua “Phúc trình thường niên 2016 về tự do tôn giáo thế giới” cần có cái nhìn, đánh giá khách quan, toàn diện về tình hình thực tế về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời hãy xóa bỏ sự kỳ thị và xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Hồng Thủy 

Internet không phải là công cụ kích động hận thù, chia rẽ đoàn kết quốc tế

QĐND - Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là internet ngày càng trở thành phương tiện hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, internet nói riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần nhau hơn.

Thế nhưng những năm qua, nhất là thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn kết quốc tế.
Trên internet, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: Dân tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng v.v.. được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.
Ảnh minh họa.
Còn nhớ, sau khi Hiệp ước về biên giới đất liền được ký kết (ngày 30-12-1999), Việt Nam và Trung Quốc đã cùng nhau phân giới cắm mốc trên thực địa. Đây là việc làm cần thiết và đã được Việt Nam và Trung Quốc thực hiện chặt chẽ, thỏa đáng, thấu tình đạt lý, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Thế nhưng trong quá trình tiến hành, một số tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước qua internet đã tung ra hàng loạt những luận điệu xuyên tạc, thông tin trái chiều gây nhiễu loạn dư luận. Họ cho rằng “Trung Quốc giành được một số vùng lãnh thổ mà trước đó Việt Nam tuyên bố chủ quyền”. Có ý kiến cho rằng, trong phân giới, cắm mốc với Trung Quốc, Việt Nam “chịu nhiều thua thiệt”. Có kẻ còn dựng chuyện, bịa đặt rằng “Chính phủ Việt Nam nhường đất cho Trung Quốc”, “Việt Nam đã mất một phần lãnh thổ trong quá trình phân giới, cắm mốc với Trung Quốc”... Rồi từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy, qua internet, họ kích động nhân dân Việt Nam “cần đòi lại bằng vũ lực...”. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, những thông tin ấy là thất thiệt, vô căn cứ. Các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân phản động muốn lợi dụng sự kiện ấy để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước Việt Nam, kích động bạo lực, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.
Tương tự quá trình đàm phán thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 về biên giới, phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia đã và đang được tiến hành hoàn toàn hợp pháp, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thế nhưng lợi dụng một số vấn đề nảy sinh trong công tác phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia, những người có tư tưởng thù địch, một số phần tử chống đối, cực đoan phản động đã qua internet tán phát thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo những người dân thiếu thông tin và kiến thức về quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc giữa hai nước để tiến hành các hoạt động phá hoại. Trên mạng xã hội, chúng cho rằng Campuchia đã “cúi đầu quá nhanh” trước Việt Nam; “Việt Nam tạo áp lực với Campuchia”... Chưa hết, qua mạng xã hội, chúng còn vu cáo Việt Nam sử dụng bản đồ giả, ngụy tạo thông tin về đường biên giới với Campuchia... Từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy chúng không nhằm mục đích nào khác là gây sự hiểu lầm, tạo hiềm khích dân tộc, gieo rắc những tư tưởng thù địch, hoài nghi về mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia.
Hay trong sự cố môi trường biển ở các tỉnh miền Trung, ngay sau khi xảy ra sự việc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người dân vùng bị thiệt hại... Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan khoa học khẩn trương vào cuộc với tinh thần thận trọng, khoa học, chính xác, khách quan và đúng pháp luật; xác định rõ nguyên nhân, đối tượng gây ra sự cố và có giải pháp xử lý kịp thời. Thế nhưng thông qua internet, với chiêu trò xuyên tạc, bịa đặt, cắt dán, gán ghép thông tin, các thế lực thù địch đã tạo nên sự nhiễu loạn trên truyền thông xã hội, làm cho thật giả, trắng đen lẫn lộn. Chúng vu cáo rằng, các cấp lãnh đạo “vì lợi ích nhóm mà bỏ quên môi trường”, “biết nguyên nhân gây ô nhiễm nhưng che giấu thông tin”, "bao che cho nhà thầu nước ngoài"... Chúng xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, kích động người dân “tẩy chay” các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà thầu đến từ Trung Quốc và Đài Loan... Chưa dừng ở đó, chúng còn soạn ra cái gọi là "tâm thư”, “khuyến nghị”... gửi ra nước ngoài kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ dẫn ra để thấy internet đang bị những đối tượng có tư tưởng thù địch, phản động triệt để sử dụng làm công cụ tuyên truyền kích động hận thù, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.
"Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm 1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".
Trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng internet làm công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
SONG HÙNG
Nguồn: http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/internet-khong-phai-la-cong-cu-kich-dong-han-thu-chia-re-doan-ket-quoc-te-522109

Từ bỏ chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lớn

QĐND - Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.

Các ông trùm chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi dưới hình thức này hay hình thức khác.
leftcenterrightdel
Lãnh tụ V.I.Lenin phát biểu tại Quảng trường Đỏ nhân kỷ niệm một năm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Ảnh: Topwar.ru 

Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Điểm qua như thế để thấy rõ rằng, gần 30 năm qua, xung quanh vấn đề nên theo hay không theo CNXH, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội ở nước ta cũng không thuần nhất và khá phức tạp, nhưng về cơ bản vẫn kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.
 Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít nhất là ở 8 điểm sau đây:
Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược "diễn biến hòa bình" để xóa bỏ CNXH mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện.
Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Thứ năm: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. 87 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?
Thứ sáu: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn.
Thứ bảy: Vào những năm Liên Xô và Đông Âu tiến hành cải tổ và cải cách, Việt Nam cũng đề ra đuờng lối đổi mới. Những nhân tố đầu tiên của đổi mới xuất hiện từ những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhưng đổi mới toàn diện trở thành đường lối chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào cuối năm 1986 theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Đổi mới của chúng ta không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu. Đảng ta đã nêu rõ 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng XHCN, đổi mới chứ không đổi màu là nguyên tắc đầu tiên. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm cho rằng “đổi mới là nửa vời, không nhất quán”. Sự thật là đổi mới của chúng ta qua hơn 30 năm đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và CNXH. Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.
Thứ tám: Tổng kết 30 năm đổi mới cho thấy: Nhận thức của Đảng ta về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"(2) .
Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của CNXH mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.
Thử hỏi, con đường độc lập dân tộc đi lên CNXH xán lạn như vậy tại sao chúng ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ?
Trong khi nêu lên 8 sai lầm cơ bản như trên, người viết bài này muốn đặt ra câu hỏi đối với các tác giả đòi chúng ta từ bỏ con đường XHCN, ý đồ thực sự của các vị phía sau đòi hỏi này là gì?
HÀ ĐĂNG, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70.
Nguồn: http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/tu-bo-chu-nghia-xa-hoi-la-mot-sai-lam-lon-522845

Không thế lực chính trị nào có thể phủ nhận được vai trò lịch sử trọng đại của Cách mạng Tháng Mười

QĐND - Cứ đến dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, các thế lực thù địch trong và ngoài nước, những kẻ tự cho là “chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam”, chống “độc tài Đảng trị” và những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại xuyên tạc, bôi đen cuộc Cách mạng Tháng Mười.

Gần đây, chúng tập trung bôi nhọ Lênin-người trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên, đồng thời đặt viên gạch đầu tiên xây dựng một chế độ xã hội mới hướng tới sự tự do và bình đẳng cho mọi người. Trong mấy ngày qua, nhiều kẻ đã nhắc tới chuyên khảo Sự tận cùng của lịch sử và con người cuối cùng của Francis Fukuyama, giáo sư Đại học Johns Hopkins Mỹ. Tác giả cho rằng, chủ nghĩa tư bản (CNTB) là hình thái cuối cùng của lịch sử nhân loại…, đồng nghĩa với không bao giờ có một xã hội khác (hàm ý xã hội XHCN).
Ảnh minh họa / qdnd.vn 
Với cách mạng Việt Nam, chúng tập trung xuyên tạc thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh-người đã tiếp nhận và truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin, khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Gần đây, chúng xuyên tạc các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của quân và dân ta là “cuộc nội chiến", "nồi da nấu thịt”, cuộc chiến tranh “ý thức hệ”…, xuyên tạc rằng chế độ xã hội của dân tộc ta là “chế độ độc tài toàn trị”…, cho rằng đường lối xây dựng xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam là theo mô hình Xô viết, đường lối đối ngoại của Đảng ta là “đi dây”… Một số kẻ suy thoái về chính trị đóng vai "người yêu nước" đưa ra “kiến nghị” trên mạng: Đảng Cộng sản Việt Nam “chủ động”, thay đổi Cương lĩnh hiện nay sang tư tưởng “dân chủ, dân tộc”-xem đó là “giải pháp chủ yếu để phát triển đất nước”.
Ngày nay, nhìn lại cuộc Cách mạng Tháng Mười trong tiến trình lịch sử thế giới nhân loại trong thế kỷ 20 cho thấy:
Tính tất yếu và giá trị bền vững của Cách mạng Tháng Mười đối với tiến trình lịch sử nhân loại như thế nào?
Cách mạng Tháng Mười không phải là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên của nhân loại. Trước đó là sự kiện nổi dậy của giai cấp công nhân và thợ thủ công Paris (còn gọi là Công xã Paris, ngày 18-3-1871 ở Pháp), song Công xã không tồn tại được bao lâu. Đó là vì nhiều yếu tố cho một cuộc cách mạng vô sản chưa thật sự chín muồi. Tính tất yếu, sức sống của Cách mạng Tháng Mười được xác lập bởi những đặc trưng của thời đại đế quốc chủ nghĩa và học thuyết cách mạng của Mác-Lênin. Không phải ngẫu nhiên mà cuộc bao vây chính trị-kinh tế, cuộc tấn công quân sự của 14 nước đế quốc đã không thể đánh bại được Nhà nước Xô viết trong những ngày còn trứng nước (1917-1918).
Nhiều chính sách xã hội ưu việt của Nhà nước Xô viết đầu tiên (về xã hội như y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi... nói chung) vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trong Liên bang Xô viết sau khi Liên Xô tan rã. Những chính sách này cũng đã tác động đến các nhà nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), hình thành các phong trào đấu tranh cho dân chủ, hòa bình và phúc lợi xã hội. Đó là điều đã được cuộc sống ghi nhận.
Có thể nói, trong lịch sử nhân loại chưa có cuộc cách mạng nào có tác động mạnh mẽ, rộng lớn và sâu xa như Cách mạng Tháng Mười. Cách mạng Tháng Mười đã lan tỏa nhanh chóng trên toàn thế giới. Cho dù ngày nay vẫn còn một số kẻ xuyên tạc, hạ thấp vai trò của Hồng quân Liên Xô trong chiến thắng của Đồng minh với chủ nghĩa phát-xít, nhưng họ không thể phủ nhận được ảnh hưởng rộng lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười và vai trò của Nhà nước Xô viết trong lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Mười “kích hoạt” phong trào giải phóng dân tộc, hình thành nhiều chế độ xã hội mới tiến bộ hơn chế độ TBCN, trong đó có chế độ XHCN. Như vậy, điều mà Francis Fukuyama cho rằng CNTB là “sự tận cùng của lịch sử…” đã không được thực tế xác nhận. Trái lại, như chúng ta thấy ở nhiều quốc gia, chủ nghĩa phát-xít mới ra đời, “chủ nghĩa dân túy-chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bài ngoại” lên ngôi.
Với dân tộc ta, tác động của Cách mạng Tháng Mười như thế nào?
Trên một số trang mạng gần đây có kẻ viết: Do “Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin nên đã diễn ra các cuộc chiến tranh "nồi da nấu thịt”; cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh “ủy nhiệm”, chiến tranh (bởi) “ý thức hệ”… Tiến trình lịch sử của dân tộc ta đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu sai trái nói trên.
Còn nhớ, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp, chịu sự thống trị vô cùng tàn bạo. Từ Cách mạng Tháng Tám, lần đầu tiên dân tộc ta được độc lập sau hàng trăm năm bị thực dân đô hộ, lần đầu tiên nhân dân ta có nhà nước pháp quyền với chế độ chính trị tiên tiến-chế độ dân chủ, cộng hòa. Có được những thành tựu vĩ đại đó là nhờ Cương lĩnh chính trị của Đảng ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh đất nước. Cũng từ tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc và truyền thống yêu nước của ông cha ta, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đập tan âm mưu áp đặt chế độ thống trị của chúng một lần nữa lên đất nước ta. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “…Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ (1954-1975) là sự tiếp nối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Về phía dân tộc ta, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ là sự tiếp nối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước. Sự khác biệt với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp nếu có thì chỉ là đế quốc Mỹ có tiềm lực lớn hơn, có tham vọng lớn hơn thực dân Pháp. Và sau khi thay chân Pháp, Mỹ đã tạo dựng được một chính quyền tay sai trên một phần đất nước ta. Hoàn toàn không có chuyện cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) là cuộc “nội chiến”, là cuộc chiến tranh "ý thức hệ”, chiến tranh “ủy nhiệm”.
Trong cuốn hồi ký mang tựa đề Hồi tưởng [2] (xuất bản năm 1995), Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người được xem là “kiến trúc sư” cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ đã rút ra 11 sai lầm mà Mỹ đã mắc phải trong cuộc chiến tranh này. Đáng chú ý có những sai lầm về tư tưởng chính trị sau: “Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai những chủ đích địa chính trị của các đối thủ... và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ” (sai lầm 1); “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ” (sai lầm 3); “Chúng ta không chịu thừa nhận đánh giá của chúng ta về cái gì là lợi ích tốt nhất của đất nước và dân tộc khác… Chúng ta không được Thượng đế ban phát quyền nhào nặn mỗi dân tộc theo hình ảnh của chúng ta hay theo cách mà chúng ta lựa chọn” (sai lầm 8).
Thời gian gần đây, một trong những thủ đoạn mà những kẻ tự xưng là người “bất đồng chính kiến”, chống “độc tài toàn trị”, những phần tử cơ hội chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường tiến hành là xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta bằng giọng điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng kinh tế theo mô hình Liên Xô”, hoặc “lệ thuộc vào Trung Quốc”…
Về lập luận này, những ai có đôi chút kiến thức lịch sử thì đều có thể bác bỏ. Công cuộc xây dựng xã hội XHCN từ năm 1975 đến nay có thể chia ra làm hai thời kỳ: Từ năm 1975 đến 1986 và từ 1986 đến nay. Không phủ nhận rằng trong thời kỳ từ năm 1975 đến 1986, mô hình xây dựng đất nước của Việt Nam có nhiều điểm theo mô hình CNXH kiểu cũ. Tuy nhiên, giai đoạn này đã được thay đổi từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Từ đây, mô hình xây dựng xã hội XHCN của nhân dân ta theo mô hình CNXH kiểu mới với nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc những phần tử cơ hội về chính trị cố tình “vơ đũa cả nắm”, cho rằng Đảng ta chủ trương xây dựng đất nước theo mô hình bên ngoài, nếu không là một thủ đoạn chính trị xấu xa thì cũng là một sự nhận thức ấu trĩ hết chỗ nói của họ.
Về đường lối đối ngoại, những thủ đoạn xuyên tạc của các phần tử cơ hội rằng: Việt Nam "đi dây” trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ; Việt Nam ngả theo Trung Quốc để “giữ chế độ, giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”… đã bị thực tế bác bỏ hoàn toàn. Thực hiện đường lối đối ngoại, “Đa phương hóa, đa dạng hóa… các quan hệ quốc tế”, “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”, Việt Nam đã thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của Đảng ta đã xác định rõ “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam như sau: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”… Trong đối tác có đối tượng và ngược lại.
Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ không có nghĩa “Việt Nam đi dây”. Đó là tư duy chính trị cổ hủ, hoàn toàn trái với xu thế chính trị của thời đại ngày nay.
TS CAO ĐỨC THÁIGiảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
[2] - Robert McNamara: 11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, Báo điện tử Dân trí, 22-4-2005 - 00:19
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-luc-chinh-tri-nao-co-the-phu-nhan-duoc-vai-tro-lich-su-trong-dai-cua-cach-mang-thang-muoi-522768

NGĂN CHẶN, PHẢN BÁC CÁC THÔNG TIN VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG INTERNET HIỆN NAY

Việt nam là quốc gia có tốc độ phổ cập và phát triển internet rất mạnh mẽ. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay chúng ta có gần 50 triệu người sử dụng Internet, đạt tỉ lệ trên 53% dân số, cao hơn mức trung bình thế giới là 46,64%. Việt Nam đứng vị trí thứ 16 trong top 20 quốc gia có số lượng người sử dụng Internet nhiều nhất tại châu Á.
          Phát triển Internet trong điều kiện hiện nay là một trong những điều kiện tiên quyết  để chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo nên những bước tiến đột phá trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại điện tử và các lĩnh vực xã hội khác, xây dựng củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xây dựng niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.
Hiện nay, các thế lực thù địch phản động cơ hội chính trị ngày càng tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với nhiều âm mưu thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt. Mục tiêu của chúng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện mục tiêu đó chúng xác định tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa làm khâu đột phá. Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet ở Việt nam đây chính là phương tiện hiệu quả để chúng thực hiện mục tiêu này. Thủ đoạn của chúng thường là lợi dụng các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước, Quân đội để tuyên truyền, chống phá; sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền tập hợp lực lượng, phản đối sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, lợi dụng một số những bất cập, hạn chế trong công tác của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể hay một số cá nhân để khoét sâu gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Chúng đã lập ra hang trăm trang web, blog để thu thập, bịa đặt, nhào nặn trộn lẫn các thông tin, đưa ra các thông tin sai lệch, lấp lửng, giật gân để gây hoài nghi, hoang mang dư luận. Triệt để lợi dụng các thông tin về mặt trái, tiêu cực của ta để thổi phồng, quy kết thành bản chất, truyền bá các quan điểm phản cách mạng.
Các hình thức Internet các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng là sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (email), trang mạng xã hội facebook, zalo, các dịch vụ hội thoại (chat), diễn đàn (forum), twitter, youtube… thông qua đó để lôi kéo lực lượng chống phá, tuyên truyền, bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ, làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ.
Để làm tốt công tác phòng chống các thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên mạng Internet, giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân, cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tổ chức đảng các cấp cần làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân.
Hai là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức đoàn thể trong đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc trên mạng internet.
Ba là, tích cực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các tư tưởng và hành động xấu độc trên mạng Internet.
Bốn là, các ngành chức năng siết chặt công tác quản lý hoạt động các trang mạng xã hội.

                                                         Tiên Phong