“Nhìn con mẹ quá não nề - Con ơi, con chỉ đóng hề được thôi”, đó là hai câu lục bát mà Minh Hà, một người Mỹ gốc Việt nổi tiếng chống cộng đã tặng tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” sau khi được chứng kiến các trò lừa đảo mà Đào Minh Quân và đồng bọn đã diễn trên đất Mỹ. Dù bị chê cười như vậy nhưng Đào Minh Quân và đồng bọn vẫn tiếp tục diễn rất nhiều trò mới, đặc biệt là sau khi một số thành viên của tổ chức khủng bố này bị Tòa án Nhân dân của Việt Nam bắt giữ, điều tra, xét xử, và tuyên phạt qua các bản án nghiêm khắc.
|
Những ngày qua, không chỉ loanh quanh trả lời câu hỏi về tư cách thành viên một tổ chức khủng bố của mấy người Mỹ gốc Việt bị Tòa án Nhân dân của Việt Nam xét xử, Đào Minh Quân và đồng bọn còn liên tục công bố các video-clip trong đó tuyên bố đến tháng 10-2018, Đào Minh Quân sẽ trở thành “tổng thống”, triển khai một số “dự án” đầy bi hài như: “bầu cử qua điện thoại”!; “phát hành đồng tiền ảo để mọi người đầu tư”!; “kiện Việt Nam, Trung Quốc trước tòa án quốc tế đòi bồi thường 36 nghìn tỷ USD, số tiền này sẽ dành tặng Hoa Kỳ 15 nghìn tỷ, và tặng nhân dân Việt Nam 21 nghìn tỷ”!
Chứng kiến các loại “tuyên bố” đưa ra tại màn diễn có “cờ vàng” chen chúc, có “quốc ca” đạo nhạc, có mấy cụ cỡ 70 tuổi vác súng gỗ mặc binh phục của đội quân thất trận ất ơ đi lại, có mấy anh chàng đeo kính đen giả làm mật vụ với mặt mũi cố ra vẻ hầm hố, nhưng lại chỉ lèo tèo hơn chục khách khứa, duy nhất có nhà báo Vũ Hoàng Lân đến đưa tin nhưng được phóng đại thành “truyền thông hải ngoại và quốc tế”,... và kết thúc bằng đại tiệc cơm hộp, ngay cả mấy kẻ người Mỹ gốc Việt vốn nổi tiếng chống cộng cực đoan cũng phải ngán ngẩm. Như Nguyễn Hữu Chánh, kẻ đang bị Công an Việt Nam truy nã vì hoạt động khủng bố, nói: “Tôi xin khuyên các anh em đang làm những công việc này đừng nên tiếp tục, vì những việc đó sẽ không đi đến đâu, cứ tiếp tục mãi như vậy thì không giống ai cả. Tôi sợ nhất là bị Việt cộng coi thường. Họ khinh bỉ chúng ta không giống con giáp nào hết, giống như cái tuồng cải lương ở ngoài này, vẽ vời lung tung thì đó là nỗi ô nhục. Nghe, theo dõi, suy nghĩ mà thấy đau lòng quá, xấu hổ quá”! Còn Nguyễn Văn Đôn, cựu trung tá của cái gọi là “quân lực Việt Nam cộng hòa”, nói thẳng thừng: “Hoa Kỳ đã bang giao với Việt Nam, thì Đào Minh Quân đâu có tư cách gì để đem một hai chục nghìn quân về Việt Nam, mà quân ở đâu mà đem. Đó là gạt gẫm đồng bào trong nước. 26 nước nào ủng hộ, Hoa Kỳ nào chấp nhận một cái chính phủ lưu vong nằm ở trên đất nước Hoa Kỳ, trong khi Hoa Kỳ đã có bang giao với Việt Nam? Như thế là đánh lận con đen, đồng bào trong nước tin vào là sẽ chết. Mà anh lấy tư cách gì để bỏ phiếu, bầu cử và đếm phiếu, tư cách ở đâu? Họ không biết gì hết mà cũng dám xưng làm tướng. Một trung sĩ sang đây xưng là tướng bốn sao, một thiếu úy cũng thành tướng ba sao là gạt gẫm đồng bào, là tự mình vẽ bùa cho mình đeo”!
“Đồng bào trong nước tin vào là sẽ chết”, đó không chỉ là lời nhận xét mà đích thực là cảnh tỉnh dành cho ai còn mò mẫm trên mạng rồi tin theo lời lẽ ma mị, lừa đảo của Đào Minh Quân và tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, để a dua theo chúng rồi có hành vi vi phạm pháp luật.
|
Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018
“Tự mình vẽ bùa cho mình đeo”!
Mục đích duy nhất là giành độc lập, thống nhất nước nhà
Những luận điệu này không có gì mới và nhiều năm nay, căn cứ vào sự thật lịch sử đã bị nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế phân tích, bác bỏ. Trong đó, đáng chú ý tiểu luận Tản mạn xung quanh cuộc chiến ở Việt Nam của cố GS, TS Trần Chung Ngọc - người Mỹ gốc Việt đăng trên sachhiem.net đã tổng thuật và đưa ra những đánh giá, nhìn nhận một cách khoa học và khá chi tiết. Trích lược dưới đây là phần tác giả đề cập luận điệu về “nội chiến, chiến tranh ủy nhiệm” mà một số người đưa ra để phủ nhận, hạ thấp thắng lợi vĩ đại, ý nghĩa to lớn của cuộc kháng chiến do nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Thế nào là nội chiến và thế nào là chiến tranh ủy nhiệm? Nếu không định nghĩa rõ ràng các từ này thì bàn về chúng là vô ích. Theo định nghĩa, nội chiến là cuộc chiến giữa hai phe trong một quốc gia mà không có sự nhúng tay hay hiện diện của người ngoài. Còn ủy nhiệm có nghĩa là ủy thác cho người khác một nhiệm vụ làm thay cho mình. Tôi cho rằng cả hai từ "nội chiến" và "chiến tranh ủy nhiệm" đều không thể áp dụng trong trường hợp Việt Nam. Thật ra thì từ "ủy nhiệm" chỉ có thể áp dụng cho phía Việt Nam cộng hòa chứ không thể áp dụng cho phía Bắc Việt. Lý do rất đơn giản. Mỹ dựng lên chế độ miền nam và quyết định mọi việc, dùng miền nam để chống Cộng cho Mỹ. Nước nào dựng lên chính quyền Bắc Việt, và chiến đấu để thống nhất đất nước có phải là một nhiệm vụ đã được nước ngoài giao phó cho không?
Bảo rằng vì Trung Quốc và Liên Xô tiếp tế vũ khí cho Bắc Việt là ủy nhiệm cho Bắc Việt chống Mỹ hộ Liên Xô hay Trung Quốc để thực hiện âm mưu bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, tôi cho là ngớ ngẩn. Vì đây chính là sự thẩm định chính trị vô cùng sai lầm của Mỹ khiến cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam và cuối cùng thất bại… Sau khi Pháp thất trận, Ngoại trưởng Mỹ J.F.Dulles (G.Ph Ðu-lơ) lên án Trung Quốc viện trợ vũ khí cho Việt Nam, và Giáo sư M.Cohen (M.Cô-hen) châm biếm: "Dulles không chịu chấp nhận là Việt Nam tự mình thắng trận, mà họ phải có viện trợ từ bên ngoài. Chắc chắn họ có rồi - cũng như Pháp. Hiển nhiên là ý tưởng về công bằng của Dulles và những người thuộc phái hữu là trang bị cho Pháp từ đầu đến chân với vũ khí hiện đại và hy vọng Việt Minh sẽ chiến đấu với khẩu súng của đầu thế kỷ 19, gươm và giáo. Thái độ của Dulles có vẻ như là Mỹ viện trợ quân phí cho Pháp nhiều tỷ USD thì được, nhưng các quốc gia Cộng sản viện trợ cho Việt Minh (dù chỉ bằng một phần nhỏ so với viện trợ của Mỹ cho Pháp) thì đó là một tội ác và là hành động xâm lăng"...
Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến không? Có lẽ không có gì rõ ràng hơn đoạn D.Ellsberg (Ð.Eo-sơ-bech) đã viết trong cuốn Hồ sơ mật Lầu Năm góc và hồi ức về cuộc chiến tranh Việt Nam: "Không có chiến tranh Ðông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía, ngay từ đầu đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp - Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - không phải tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh - chống chính sách của Mỹ và sự ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công của Mỹ. Cuộc chiến đó không có gì là "nội chiến", sau năm 1956 hay 1960, như nó không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc - một quyền lực nắm quyền quyết định bản chất của chế độ địa phương vì các quyền lợi của mình - thì không phải là một cuộc nội chiến…
Thế nào là nội chiến và thế nào là chiến tranh ủy nhiệm? Nếu không định nghĩa rõ ràng các từ này thì bàn về chúng là vô ích. Theo định nghĩa, nội chiến là cuộc chiến giữa hai phe trong một quốc gia mà không có sự nhúng tay hay hiện diện của người ngoài. Còn ủy nhiệm có nghĩa là ủy thác cho người khác một nhiệm vụ làm thay cho mình. Tôi cho rằng cả hai từ "nội chiến" và "chiến tranh ủy nhiệm" đều không thể áp dụng trong trường hợp Việt Nam. Thật ra thì từ "ủy nhiệm" chỉ có thể áp dụng cho phía Việt Nam cộng hòa chứ không thể áp dụng cho phía Bắc Việt. Lý do rất đơn giản. Mỹ dựng lên chế độ miền nam và quyết định mọi việc, dùng miền nam để chống Cộng cho Mỹ. Nước nào dựng lên chính quyền Bắc Việt, và chiến đấu để thống nhất đất nước có phải là một nhiệm vụ đã được nước ngoài giao phó cho không?
Bảo rằng vì Trung Quốc và Liên Xô tiếp tế vũ khí cho Bắc Việt là ủy nhiệm cho Bắc Việt chống Mỹ hộ Liên Xô hay Trung Quốc để thực hiện âm mưu bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, tôi cho là ngớ ngẩn. Vì đây chính là sự thẩm định chính trị vô cùng sai lầm của Mỹ khiến cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam và cuối cùng thất bại… Sau khi Pháp thất trận, Ngoại trưởng Mỹ J.F.Dulles (G.Ph Ðu-lơ) lên án Trung Quốc viện trợ vũ khí cho Việt Nam, và Giáo sư M.Cohen (M.Cô-hen) châm biếm: "Dulles không chịu chấp nhận là Việt Nam tự mình thắng trận, mà họ phải có viện trợ từ bên ngoài. Chắc chắn họ có rồi - cũng như Pháp. Hiển nhiên là ý tưởng về công bằng của Dulles và những người thuộc phái hữu là trang bị cho Pháp từ đầu đến chân với vũ khí hiện đại và hy vọng Việt Minh sẽ chiến đấu với khẩu súng của đầu thế kỷ 19, gươm và giáo. Thái độ của Dulles có vẻ như là Mỹ viện trợ quân phí cho Pháp nhiều tỷ USD thì được, nhưng các quốc gia Cộng sản viện trợ cho Việt Minh (dù chỉ bằng một phần nhỏ so với viện trợ của Mỹ cho Pháp) thì đó là một tội ác và là hành động xâm lăng"...
Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến không? Có lẽ không có gì rõ ràng hơn đoạn D.Ellsberg (Ð.Eo-sơ-bech) đã viết trong cuốn Hồ sơ mật Lầu Năm góc và hồi ức về cuộc chiến tranh Việt Nam: "Không có chiến tranh Ðông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía, ngay từ đầu đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp - Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - không phải tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh - chống chính sách của Mỹ và sự ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công của Mỹ. Cuộc chiến đó không có gì là "nội chiến", sau năm 1956 hay 1960, như nó không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc - một quyền lực nắm quyền quyết định bản chất của chế độ địa phương vì các quyền lợi của mình - thì không phải là một cuộc nội chiến…
Theo tinh thần Hiến chương Liên hợp quốc và theo các lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ". Tại sao D.Ellsberg lại có thể viết như vậy. Vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã đọc những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến tại Việt Nam. Chính ông là người đã tiết lộ tài liệu của Lầu năm góc. Và ông viết đoạn trên vào năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ "phản chiến" sôi nổi trên đất Mỹ. Nếu chúng ta đọc một số sách viết sau năm 1975 về cuộc chiến Việt Nam của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy đa số đồng ý với D.Ellsberg về điểm này.
Cũng nên biết một tài liệu khác về bản chất cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm. Trong cuốn Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ hai tác giả J.C Rowe (G.C Râu) và R.Berg (R.Bếch) viết: "Tới năm 1982 - sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng - trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến "căn bản là sai lầm, phi đạo đức", không chỉ là "một lỗi lầm". Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) năm 1954, dựng lên ở miền nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, đã giết có lẽ khoảng 70.000 "Việt cộng", gây nên phong trào kháng chiến mà từ năm 1959 được sự ủng hộ của nửa miền bắc bị tạm thời chia đôi bởi Hiệp định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong hai năm 1961-1962, Tổng thống Kennedy (Ken-nơ-đi) phát động cuộc tiến công vào làng mạc nam Việt Nam với các cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang thuộc chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào ấp chiến lược để họ được bảo vệ bởi những lính gác, dây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định đã được mời đến, song như tờ Nhà kinh tế Luân Ðôn nhận định chính xác "một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp". Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tiến công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Ðông Dương".
Như trên tôi đã trình bày, từ "chiến tranh ủy nhiệm" không thích hợp, vì chỉ đúng với một phía: Mỹ ủy nhiệm nam Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, nhưng Liên Xô và Trung Quốc không ủy nhiệm cho Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cũng như không ủy nhiệm cho Việt Nam gây chiến với Mỹ và chống Mỹ để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản như nhiều người ngộ nhận. Thật vậy, đa số nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều công nhận rằng thuyết Domino (Ðô-mi-nô) của Mỹ là sai… Trong cuộc chiến 30 năm, Việt Nam chỉ ở trong thế bắt buộc để tự vệ trong mục đích giành độc lập và thống nhất nước nhà mà tôi tin rằng tuyệt đại đa số người dân Việt Nam khao khát, lẽ dĩ nhiên không thể không có sự trợ giúp từ bên ngoài, của các nước bạn…
Tôi tự biết, có thể tôi đã "lội ngược dòng" truyền thông hải ngoại, nhưng với tinh thần khoa học tôn trọng sự thực, dù đau lòng cách mấy tôi cũng không thể bán rẻ lương tâm để tự dối lòng viết lên những điều mà tôi biết rằng sai. Như chúng ta đã biết, cuộc can thiệp của Mỹ, hay nói đúng hơn là cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam, đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc trên khắp đất nước, thực chất là một sai lầm căn bản và phi luân. Một số nhỏ người Mỹ, đa số người Việt Nam thuộc chế độ cũ, vẫn cho rằng sự can thiệp của Mỹ bắt nguồn từ một ý định tốt. Nhưng qua ngay tài liệu của Lầu năm góc và của các bậc trí thức cũng như các bậc lãnh đạo tôn giáo có uy tín trên nước Mỹ thì đó là điều không thực. Ngay cả cựu Bộ trưởng Quốc phòng R.McNamara (R.Mắc Na-ma-ra) cũng phải thừa nhận cuộc chiến Việt Nam là một sự sai lầm của Mỹ…
Cũng nên biết một tài liệu khác về bản chất cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm. Trong cuốn Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ hai tác giả J.C Rowe (G.C Râu) và R.Berg (R.Bếch) viết: "Tới năm 1982 - sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng - trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến "căn bản là sai lầm, phi đạo đức", không chỉ là "một lỗi lầm". Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) năm 1954, dựng lên ở miền nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, đã giết có lẽ khoảng 70.000 "Việt cộng", gây nên phong trào kháng chiến mà từ năm 1959 được sự ủng hộ của nửa miền bắc bị tạm thời chia đôi bởi Hiệp định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong hai năm 1961-1962, Tổng thống Kennedy (Ken-nơ-đi) phát động cuộc tiến công vào làng mạc nam Việt Nam với các cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang thuộc chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào ấp chiến lược để họ được bảo vệ bởi những lính gác, dây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định đã được mời đến, song như tờ Nhà kinh tế Luân Ðôn nhận định chính xác "một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp". Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tiến công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Ðông Dương".
Như trên tôi đã trình bày, từ "chiến tranh ủy nhiệm" không thích hợp, vì chỉ đúng với một phía: Mỹ ủy nhiệm nam Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, nhưng Liên Xô và Trung Quốc không ủy nhiệm cho Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cũng như không ủy nhiệm cho Việt Nam gây chiến với Mỹ và chống Mỹ để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản như nhiều người ngộ nhận. Thật vậy, đa số nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều công nhận rằng thuyết Domino (Ðô-mi-nô) của Mỹ là sai… Trong cuộc chiến 30 năm, Việt Nam chỉ ở trong thế bắt buộc để tự vệ trong mục đích giành độc lập và thống nhất nước nhà mà tôi tin rằng tuyệt đại đa số người dân Việt Nam khao khát, lẽ dĩ nhiên không thể không có sự trợ giúp từ bên ngoài, của các nước bạn…
Tôi tự biết, có thể tôi đã "lội ngược dòng" truyền thông hải ngoại, nhưng với tinh thần khoa học tôn trọng sự thực, dù đau lòng cách mấy tôi cũng không thể bán rẻ lương tâm để tự dối lòng viết lên những điều mà tôi biết rằng sai. Như chúng ta đã biết, cuộc can thiệp của Mỹ, hay nói đúng hơn là cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam, đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc trên khắp đất nước, thực chất là một sai lầm căn bản và phi luân. Một số nhỏ người Mỹ, đa số người Việt Nam thuộc chế độ cũ, vẫn cho rằng sự can thiệp của Mỹ bắt nguồn từ một ý định tốt. Nhưng qua ngay tài liệu của Lầu năm góc và của các bậc trí thức cũng như các bậc lãnh đạo tôn giáo có uy tín trên nước Mỹ thì đó là điều không thực. Ngay cả cựu Bộ trưởng Quốc phòng R.McNamara (R.Mắc Na-ma-ra) cũng phải thừa nhận cuộc chiến Việt Nam là một sự sai lầm của Mỹ…
Như vậy, mọi lý luận dựa trên những "nếu", "tại vì" để biện minh cho cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam đều trở thành vô giá trị. Ðể kết luận, xin dịch một đoạn trong cuốn Nhìn lại Việt Nam: những bài học từ một cuộc chiến, một cuốn sách của nhiều tác giả với những quan điểm về mọi khía cạnh cuộc chiến. Tôi hy vọng đoạn này giúp hiểu thực chất cuộc chiến ở miền nam và tại sao Mỹ không thắng, và đây là điều một cựu quân nhân Mỹ viết lại khi từng tham dự cuộc tiến công vào một làng: "Trong làng chỉ có vài dân làng và vài gia súc. Một người đàn bà đang kêu khóc và nguyền rủa chúng tôi khi chúng tôi đi qua. Tôi không hiểu bà nói gì. Không phải những lời khen tặng. Tại sao bà ta lại hét vào mặt tôi? Tôi đến từ mười sáu ngàn cây số, đi trong mưa dầm, sức nóng vùng nhiệt đới, cánh đồng lúa, sông ngòi, lội bùn đến hông, ngã lên ngã xuống, bị mọi thứ sâu bọ cắn, luôn luôn mệt mỏi, bị tiêu chảy, sống bằng thức ăn mà tôi không cho cả chó ăn, bị bắn, phục kích, bị ném lựu đạn… để giải thoát bà ta - mà bà ta lại đang đứng kia nhổ vào mặt tôi, nguyền rủa tôi? Một tiếng nói thì thầm trong óc tôi. Nó nói rằng: "Này, ngươi, người đàn bà này cóc cần biết là ngươi cao quý như thế nào khi đến từ ngàn dặm để giải thoát bà ta khỏi Cộng sản; tất cả bà ta biết là nhà ngươi, hay là người nào đó giống ngươi, vừa mới đốt nhà bà ta. Nhà ngươi có thể gọi đó chỉ là cái nhà tranh và cười vì nó không có cửa, nhưng đó là nhà của bà ta và nó vừa bị đốt cháy, bất kể là vì lý do cao quý nào. Ðó là tại sao bà ta đang nguyền rủa nhà ngươi cũng như tổ tiên ba đời nhà ngươi. Vì chính ngươi, chứ không phải những người cộng sản, vừa mới đốt nhà bà và hủy diệt tất cả những gì đáng quý trong đời của bà"...
Theo Nhân dân
Theo Nhân dân
Tự do tư tưởng: Từ khát vọng đến thực tiễn sinh động ở Việt Nam
BẢN CHẤT CỦA QUYỀN TỰ DO SÁNG TÁC
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI về văn hóa, văn nghệ đã khẳng định: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng. Trong lịch sử, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được độc lập, tự do và đã mang lại quyền tự do sáng tác chân chính cho văn nghệ sĩ. Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ quốc và CNXH. Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lại dân tộc, chống lại CNXH, phá hoại hòa bình) và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được lưu hành và đặt dưới sự đánh giá, phán xét của công luận và sự phê bình”.
Là một chính đảng ra đời từ khát khao độc lập, tự do của nhân dân, hơn ai hết, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng quyền tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật. Sức hút của ánh sáng từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thu hút phần lớn văn nghệ sĩ và trí thức tham gia cách mạng, vượt mọi khó khăn, gian khổ, đồng hành cùng nhân dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ. Đó cũng là nền tảng để báo chí, văn học, nghệ thuật Việt Nam trong 30 năm kháng chiến đạt được những thành tựu to lớn, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Từ thời chiến bước sang thời bình, từ thời bao cấp đến những năm đổi mới, trong từng bước chuyển mình của đất nước, đời sống báo chí, văn học, nghệ thuật của đất nước cũng diễn ra sự vận động không ngừng cả ở chiều sâu lẫn diện rộng. Đó là quãng đường đầy trăn trở với những tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của công chúng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, Đảng cũng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, đổi mới tư duy mạnh mẽ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo phát triển báo chí, văn học, nghệ thuật.
Thành tựu của 30 năm đổi mới, trong đó có thành tựu to lớn của báo chí, văn học, nghệ thuật đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, trên một số website không chính thức thời gian qua, đã có nhà văn viết bài phủ định sạch trơn thành tựu của báo chí, văn học, nghệ thuật cách mạng, cho rằng đó lànhững tác phẩm tuyên truyền một chiều, “tô hồng thực tế” theo chỉ đạo của Đảng. Một số văn nghệ sĩ vì bất mãn mà phát tán trên mạng xã hội những luận điểm, cho rằng “cơ chế độc đảng” ở Việt Nam hiện nay đang bóp nghẹt tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật (!?). Đáng tiếc là những nhà văn đó đã nói ngược với chính mình, phủ nhận chính những tác phẩm của mình từng được các nhà phê bình và bạn đọc đánh giá cao. Thiết nghĩ, đối với những người mà vì động cơ cá nhân, sẵn sàng phủ nhận chính mình thì có lẽ cũng không cần bàn luận gì thêm, bởi đối với họ, những phát ngôn được gắn mác “dân chủ” hay “đấu tranh” cũng không ngoài lợi ích cá nhân, vì sự bất mãn cá nhân.
Còn một số khác, lại dùng ngòi bút của mình đưa ra những khuyến nghị rất nghiêm túc, cho rằng trước đây, báo chí, văn học, nghệ thuật phục vụ Đảng để đấu tranh giành tự do; nay là lúc Đảng để cho báo chí, văn học, nghệ thuật được phát triển tự do.
Xét ở một góc độ nào đó, thì khuyến nghị trên cần được xem xét và đưa ra những luận giải một cách nghiêm túc, sao cho “thấu lý đạt tình”, tránh quy chụp và áp đặt! Bởi lẽ đó là suy nghĩ, nhận thức của một số văn nghệ sĩ hiện nay.
Luận giải để phản biện với khuyến nghị này, chúng tôi cũng nghiêm túc cho rằng, việc đảng chính trị lãnh đạo nhà nước và xã hội là vấn đề khách quan.Bất kể quốc gia nào cũng có vai trò lãnh đạo của đảng chính trị.Đảng nào giành được quyền lực, trở thành đảng cầm quyền đều có đường lối, mục tiêu của họ với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.Bởi vậy, báo chí, văn học, nghệ thuật đương nhiên không thể tách rời sự lãnh đạo đó. Trong khi các đảng cầm quyền khác trên thế giới thường né tránh nói về ảnh hưởng của họ đối với báo chí, văn học, nghệ thuật thì Đảng Cộng sản Việt Nam lại công khai và nhận trách nhiệm lãnh đạo về mình, coi đó là điều kiện quyết định bảo đảm quyền tự do sáng tạo tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật ở Việt Nam. Và điều đó, đã được Hiến pháp 2013 hiến định.
Cũng cần phải nói thêm rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí, văn học, nghệ thuật, hay nói cách khác, mục tiêu hoạt động của Đảng là nhằm bảo đảm cho nhân dân được hưởng đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do hưởng thụ, sáng tác, quảng bá những tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật chân chính. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ bản Yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919 gửi nhà cầm quyền Pháp đã nêu yêu cầu về tự do báo chí, tự do lập hội. Năm 1943, dù chưa giành được chính quyền, Đảng vẫn xây dựng Đề cương Văn hóa Việt Nam, chủ trương phát triển nền văn hóa Việt Nam theo hướng Dân tộc, Khoa học và Đại chúng…
Sơ lược như vậy để thấy rằng, vấn đề đảng chính trị lãnh đạo báo chí, văn học, nghệ thuật, dù bằng những phương thức khác nhau, là vấn đề kháchquan. Hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học, nghệ thuật không có mục tiêu nào khác nhằm phát triển lĩnh vực này theo những giá trị của truyền thống dân tộc và giá trị nhân loại, theo các chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ.
TỰ DO NÀO CŨNG PHẢI VÌ CÔNG LÝ VÀ CỘNG ĐỒNG
Vẫn có những quan điểm lạc lõng cho rằng: “Dưới chế độ đảng trị thì dẫu có cả nghìn tờ báo, kênh phát thanh-truyền hình, báo chí Việt Nam vẫn chỉ là báo chí một chiều, thông tin theo định hướng”; rồi “văn họcnghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học-nghệ thuật minh họa nghị quyết”…
Cứ theo quan điểm của những người phủ nhận vai trò của Đảng thì để có nền báo chí, văn học nghệ thuật “thực sự”, các nhà báo, văn nghệ sĩ phải có quyền thông tin vô hạn độ, “thông tin trong thế giới phẳng không có biên giới, không có vùng cấm”, hay các văn nghệ sĩ được quyền tự do tuyệt đối trong sáng tạo và công bố tác phẩm.
Vậy hiện nay, trên thế giới đã có quốc gia nào có nền báo chí, văn học-nghệ thuật đạt đến trình độ “tự do tuyệt đối” như vậy chưa?
Ở Vương quốc Anh, mọi người có thể công khai diễn thuyết trong trường hợp nhất định và có không gian xác định nhưng nếu có người hô “đả đảo Chính phủ nước Anh”, “đả đảo Nữ hoàng” hoặc tuyên truyền bạo lực, thì sẽ bị coi là tội phạm và bị bắt. Ở Pháp, năm 1881, nền Cộng hòa lần thứ Ba của nước Pháp đã ban hành một đạo luật về tự do báo chí. Đạo luật này đến nay vẫn cơ bản còn giá trị. Cùng với việc công nhận quyền tự do báo chí, đạo luật 1881 đã xác lập giới hạn trong tự do báo chí, bằng việc đưa ra các định nghĩa về tội phạm báo chí.
Ở Mỹ, nơi được các nhà “dân chủ” xem như một hình mẫu của “thế giới tự do” khi họ viện dẫn Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ quy định Quốc hội không có quyền ban hành văn bản hạn chế tự do báo chí. Tuy nhiên, họ quên rằng, rất nhiều đạo luật, bộ luật đã cụ thể hóa vấn đề này. Đạo Luật Trấn áp Phản loạn của nước Mỹ quy định: “việc viết, in, phát biểu hay phổ biến… mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội”. Hay Điều 238, Bộ Luật Hình sự của Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết, tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”.
Như vậy, ở nhiều quốc gia khác nhau, cùng với việc công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng trong Hiến pháp, các bộ luật đều có những quy định cụ thể, đưa ra những giới hạn nhất định để bảo đảm việc thực thi các quyền con người phù hợp với sự ổn định và phát triển đất nước. Cách đây không lâu, một hãng phim Mỹ tung ra thị trường bộ phim “Sự ngây thơ của các tín đồ Hồi giáo” đã khiến toàn thể tín đồ đạo Hồi trên thế giới phẫn nộ, gây nên nhiều cuộc biểu tình, bạo động, bao vây, đe dọa an ninh các sứ quán Mỹ ở nhiều nước. Còn ở Pháp, ngày 7-1-2015 được xem là ngày đen tối nhất trong lịch sử báo chí nước Pháp, khi một nhóm khủng bố tấn công trụ sở tòa soạn Báo Charlie Hebdo, sát hại 12 người vì lý do tờ báo này đã vẽ tranh châm biếm tôn giáo của họ. Trước sự kiện thảm sát này, Giáo hoàng Francis đã cho rằng: “Tự do báo chí không phải vô giới hạn khi tự do đó xúc phạm tới tín ngưỡng tôn giáo”. Ông Ban Ki Mun, khi đương chức Tổng thư ký Liên hợp quốc cũng lên tiếng: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng… Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.
Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc (năm 1948) khẳng định: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
SỨ MỆNH PHẤN ĐẤU CHO CHÂN - THIỆN - MỸ
Những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên đã chứng tỏ rằng, ở mọi quốc gia trên thế giới, không hề và không thể có nền báo chí, văn học - nghệ thuật nào “tự do tuyệt đối”, ‘tự do vô hạn”.
Nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình, khi bình luận về những yêu sách “tự do tuyệt đối” của một số nhà “dân chủ tự phong” đã cho rằng: Ở nước ta hiện nay, không còn “vùng cấm” trong văn nghệ không có nghĩa là văn nghệ sĩ được tự do tuyệt đối bởi như mọi lĩnh vực khác trong xã hội, văn học - nghệ thuật cần và phải có sự quản lý. Như mọi người, văn nghệ sĩ cũng là một công dân phải tuân thủ pháp luật, và như mọi ngành nghề hoạt động văn chương, nghệ thuật, báo chí cũng phải theo luật, cụ thể là Luật Xuất bản, Luật Báo chí. Là thế nên nói không có, không còn “vùng cấm” không có nghĩa là văn nghệ sĩ được sống và sáng tạo “ngoài vòng pháp luật”. Là văn nghệ sĩ Việt Nam, tất cả đều được tự do sáng tác nhưng khi công bố tác phẩm, xuất bản tác phẩm đều phải tuân thủ Luật Xuất bản, Luật Báo chí.
Không chỉ coi trọng quyền tự do sáng tạo của giới báo chí, văn nghệ sĩ, trong các nghị quyết của Đảng luôn chú ý đến tính đặc thù, đặc biệt tinh tế của giới báo chí, văn nghệ sĩ. Ngay thời kỳ đầu đổi mới, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI đã nhấn mạnh: “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”. Đảng cũng luôn tự phê bình và phê bình công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, văn học - nghệ thuật. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X nhìn nhận: “năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của một số cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế; nội dung và phương thức lãnh đạo chậm đổi mới; chưa lường hết được tác động phức tạp, tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, dẫn tới sự lúng túng, thụ động khi định hướng và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Nhiều chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, tham mưu, quản lý văn nghệ thiếu hiểu biết về văn học-nghệ thuật, ít học tập, ngại tiếp xúc nên hiệu quả lãnh đạo, quản lý còn thấp...”.
Nêu lên nội dung này, chúng tôi muốn nhìn nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật luôn ở hai mặt của một vấn đề. Ở đâu, lãnh đạo sát, đúng thì ở đó báo chí, văn học, nghệ thuật phát triển mạnh.Ở đâu năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy còn hạn chế thì báo chí, văn học, nghệ thuật bị kìm hãm hoặc kém phát triển.Cách nhìn nhận như vậy càng cho chúng ta thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng với báo chí, văn học, nghệ thuật.
Thành tựu phát triển của báo chí, văn học, nghệ thuật từ khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. Chỉ trong 30 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành 29 nghị quyết, kết luận, chỉ thị về văn hóa, báo chí - xuất bản, văn học - nghệ thuật. Cũng với quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò to lớn của báo chí, văn học, nghệ thuật, đó là những thành tố nòng cốt của nền văn hóa, là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn nội sinh quan trọng để phát triển đất nước.
Đời sống văn hóa, văn nghệ đã có những biến đổi sâu sắc sau 30 năm đổi mới với sự tiến bộ, phong phú, đa dạng cả về hình thức và nội dung, số lượng và chất lượng; đã đạt được những thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực: sáng tác, lý luận và phê bình, sử dụng và truyền bá, quản lý và lãnh đạo, đào tạo và bồi dưỡng. Văn hóa - nghệ thuật đã tích cực khám phá, nhận thức, phản ánh, tác động, cải biến hiện thực; đã thực sự trở thành động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu văn hóa, tinh thần ngày càng cao của nhân dân./.
Nguyễn Hồng Hải
TRUMP NÊN LÀ MỘT THƯƠNG GIA THÌ HƠN.
Bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, chưa bao giờ lợi ích, vị thế, vai trò bá quyền thế giới của Mỹ bị đe doạ như lúc này. Nổi lên có thể thấy:
- Những năm gần đây, Mỹ không mấy khởi sắc trong các chiến dịch lật đổ và tạo dựng chính quyền bù nhìn phục vụ lợi ích Mỹ ở Trung Đông, Bắc Phi,nếu không nói là sa lầy!
- Chiến tranh lạnh về mặt lý thuyết đã kết thúc sau khi Liên Xô, Động Âu sụp đổ, song thực tiễn thì vẫn tiếp diễn và ngày càng sâu sắc. Trong đó đặc biệt là mâu thuẫn giữa Nga và Nato ngày càng gay gắt, nhất là trong bối cảnh người dân các quốc gia thuộc không gian Xô Viết cũ, và người dân Nga đương thời dường như đã bắt đầu nuối tiếc nhiều hơn với sự sụp đổ của đế chế Liên Xô.
- Chiến tranh thương mại Trung - Mỹ đang bước sang giai đoạn căng go, quyết liệt và gay gắt hơn bao giờ hết. Ở bối cảnh này, có thể nói, nước Mỹ dưới sự điều hành của Trump đang gặp phải bế tắc.
Nguy cơ soán ngôi Mỹ làm bá chủ thế giới mới
của Trung Quốc với vị thế đang lên là hiện hữu và hiện thực hoá với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết.
- Nền kinh tế, tài chính xã hội Mỹ đang bước sang giai đoạn suy thoái, sức ì sau nhiều năm phát triển nhờ buôn bán vũ khí đã dần lạc hậu khi ngay cả các nước kém phát triển cũng đã đủ năng lực ứng dụng, đón đầu khoa học công nghệ để phát triển hệ thống vũ khí siêu Việt hơn Mỹ. Tất nhiên, khi vị thế, vai trò, uy tín chính trị của Mỹ không còn bởi những “giá trị phản bội lợi ích nhân loại” như “nhân quyền, nhân chủ,...” kiểu Mỹ (chuẩn giá trị vô thực, phục vụ lợi Mỹ, chà đạp nhân quyền thực tế tại nhiều lãnh thổ) thì việc không chế các quốc gia khác phụ thuộc theo Mỹ là rất khó. Một điều đáng lưu tâm là những thành quả phát triển chung của nhân loại đang làm thế giới ngày càng trở nên “phẳng” và bình đẳng hơn bao giờ hết. Nói cách khác, trong tương lai, các chuẩn mực ứng xử quốc tế sẽ thực tế hơn, việc áp đặt của nước lớn lên nước nhỏ khó khăn hơn, vai trò vị thế các quốc gia bình đẳng hơn... thì việc áp đặt tư tưởng của Mỹ lên các quốc gia càng khó hơn.
Túm lại, Trump và Mỹ của Trump đang rơi vào bế tắc, và quy luật bất biến của bất cứ ai đi vào ngõ cụt đó là “rú” lên một tiếng. Cá nhân em đánh giá việc Trump công khai kêu gọi “tất cả các nước trên thế giới chống chủ nghĩa xã hội” là hành động non kém chính trị, mang đậm bản chất của một thương gia; đồng thời cũng thể hiện những bế tắc trong thể chế Mỹ hiện hành./.
- Những năm gần đây, Mỹ không mấy khởi sắc trong các chiến dịch lật đổ và tạo dựng chính quyền bù nhìn phục vụ lợi ích Mỹ ở Trung Đông, Bắc Phi,nếu không nói là sa lầy!
- Chiến tranh lạnh về mặt lý thuyết đã kết thúc sau khi Liên Xô, Động Âu sụp đổ, song thực tiễn thì vẫn tiếp diễn và ngày càng sâu sắc. Trong đó đặc biệt là mâu thuẫn giữa Nga và Nato ngày càng gay gắt, nhất là trong bối cảnh người dân các quốc gia thuộc không gian Xô Viết cũ, và người dân Nga đương thời dường như đã bắt đầu nuối tiếc nhiều hơn với sự sụp đổ của đế chế Liên Xô.
- Chiến tranh thương mại Trung - Mỹ đang bước sang giai đoạn căng go, quyết liệt và gay gắt hơn bao giờ hết. Ở bối cảnh này, có thể nói, nước Mỹ dưới sự điều hành của Trump đang gặp phải bế tắc.
Nguy cơ soán ngôi Mỹ làm bá chủ thế giới mới
của Trung Quốc với vị thế đang lên là hiện hữu và hiện thực hoá với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết.
- Nền kinh tế, tài chính xã hội Mỹ đang bước sang giai đoạn suy thoái, sức ì sau nhiều năm phát triển nhờ buôn bán vũ khí đã dần lạc hậu khi ngay cả các nước kém phát triển cũng đã đủ năng lực ứng dụng, đón đầu khoa học công nghệ để phát triển hệ thống vũ khí siêu Việt hơn Mỹ. Tất nhiên, khi vị thế, vai trò, uy tín chính trị của Mỹ không còn bởi những “giá trị phản bội lợi ích nhân loại” như “nhân quyền, nhân chủ,...” kiểu Mỹ (chuẩn giá trị vô thực, phục vụ lợi Mỹ, chà đạp nhân quyền thực tế tại nhiều lãnh thổ) thì việc không chế các quốc gia khác phụ thuộc theo Mỹ là rất khó. Một điều đáng lưu tâm là những thành quả phát triển chung của nhân loại đang làm thế giới ngày càng trở nên “phẳng” và bình đẳng hơn bao giờ hết. Nói cách khác, trong tương lai, các chuẩn mực ứng xử quốc tế sẽ thực tế hơn, việc áp đặt của nước lớn lên nước nhỏ khó khăn hơn, vai trò vị thế các quốc gia bình đẳng hơn... thì việc áp đặt tư tưởng của Mỹ lên các quốc gia càng khó hơn.
Túm lại, Trump và Mỹ của Trump đang rơi vào bế tắc, và quy luật bất biến của bất cứ ai đi vào ngõ cụt đó là “rú” lên một tiếng. Cá nhân em đánh giá việc Trump công khai kêu gọi “tất cả các nước trên thế giới chống chủ nghĩa xã hội” là hành động non kém chính trị, mang đậm bản chất của một thương gia; đồng thời cũng thể hiện những bế tắc trong thể chế Mỹ hiện hành./.
SỰ THẬT ĐẰNG SAU BỨC HÌNH THỦ TƯỚNG PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LHQ
**********************************
Rất ít người trước khi bấm nút chia sẻ những hình ảnh đó, dành ra một phút thôi để tìm hiểu vì sao có sự đối lập đó? Lãnh đạo các quốc gia khác khi phát biểu có cùng “hoàn cảnh” với lãnh đạo nước mình?.
Thực tế, hai bức hình trên được chụp trong hai phiên họp khác nhau, thời gian cũng khác nhau. Tổng thống Donald Trump phát biểu tại Đại hội đồng LHQ hôm 25/9, còn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng LHQ vào sáng nay (28/9). Điều quan trọng, hình ảnh phát đi từ các video cho thấy rất nhiều nguyên thủ khác như New Zealand, Iran, Israel… phát biểu cũng rất ít người nghe phía dưới. Vậy nhưng, người dân nước họ không lấy đó làm hả hê, coi đó là sự “sỉ nhục”, tuyệt nhiên không một bức hình nào liên quan hoặc có nhưng cũng không kèm theo đó là những lời bình mai mỉa. Vì sao vậy?. Đơn giản là vì cái mà quan tâm là thông điệp mà lãnh đạo nước họ truyền đi như thế nào? Các quốc gia hưởng ứng ra sao?.
Hai bức hình trên được chụp trong hai phiên họp khác nhau, thời gian cũng khác nhau.
Có thể thấy, trên cương vị Thủ tướng Việt Nam, cũng là người đại diện cho đất nước tới tham dự Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đem đến Đại Hội đồng LHQ khóa 73 một bài phát biểu đặc biệt quan trọng và ấn tượng trong đó không chỉ đề cao vai trò của tổ chức lớn nhất hành tinh trong bối cảnh trật tự thế giới đầy biến đổi. Mà còn khéo léo gắn những lợi ích sát sườn của Việt Nam vào bài phát biểu này đến bạn bè quốc tế.
Tự tin, đĩnh đạc với tư thế cuả một quốc gia hơn 94 triệu dân, với bề dày của một dân tộc hơn 4000 ngàn năm văn hiến. Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gửi đi thông điệp khẳng định những giá trị phổ quát về vai trò của Liên hợp quốc đối với toàn cầu. Đồng thời, nêu rõ sự phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau trong một thế giới có nhiều biến động như hiện nay.
Trong khi một số người còn đang mải miết gặm nhắm sự “tự ti” về vị thế quốc gia sau bức hình trên mạng xã hội thì bạn bè quốc tế, các đoàn tham dự phải di chuyển khỏi vị trí chỗ ngồi của mình để lên chúc mừng Thủ tướng Việt Nam về bài phát biểu. Giới quan sát quốc tế cũng đánh gia cao bài phát biểu này, Giáo sư Carl Thayer thuộc học viện Quốc phòng Australia đánh giá: “Việt Nam nhận được sự tôn trọng rộng rãi của cộng đồng quốc tế vì vai trò tích cực của mình trong việc thúc đẩy an ninh khu vực và toàn cầu. Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là minh chứng thiết thực cho sự ủng hộ của Việt Nam đối với Liên Hợp Quốc, luật lệ quốc tế và sự phát triển bền vững”. Ông nhấn mạnh, bài phát biểu của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc còn quan trọng gấp đôi trong bối cảnh Việt Nam rõ ràng là sự lựa chọn đồng lòng của nhóm châu Á – Thái Bình Dương cho vị trí thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an.
Bài phát biểu của Thủ tướng là tiếng nói từ đáy lòng của một dân tộc đã được đại hội đồng liên hiệp quốc đánh giá cao và được cộng đồng quốc tế nhìn nhận như là tiếng nói của một quốc gia đầy trách nhiệm với khát vọng Hòa Bình và Thịnh vượng. Và như Giáo sư Carl Thayer nhận định thì chính “điều này giúp cho các nước thành viên có đầy đủ cơ sở để bỏ phiếu bầu cho Việt Nam vào vị trí này vào 6/2019″. Đó mới là điều chúng ta cần bàn lúc này.
GÓC SỰ THẬT VỀ BỨC ẢNH NGUYÊN THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG "LƯỜM" TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Từ hôm qua đến giờ trên mạng xã hội, bọn phản động đang lan truyền hình ảnh nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng "lườm" Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhiều cái "tit" rất ác ý nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết, gây hoang mang dư luận. Tuy nhiên chúng tôi xin khẳng định
1: Hình ảnh mà chúng ta thấy là hoàn toàn có thật, nó diễn ra trong lễ truy điệu của Chủ tịch nước Trần Đại Quang (xem video)
2. Xem video dưới chúng ta có thể thấy đ/c Nguyễn Tấn Dũng đang nhìn về hướng quan tài chứ không nhìn TBT, tuy nhiên, do góc máy chụp nên thành ra thế!
3. Bọn phản động luôn tìm mọi sơ hở nhỏ nhất để cấu xé, nói xấu chế độ. Tuy nhiên chúng ta cũng cần khách quan khi xem xét một sự vật, hiện tượng. Không thể theo kiểu "tay nhanh hơn não" như bọn chúng
PS: Không có gì to tát cho hình ảnh này
#HP
1: Hình ảnh mà chúng ta thấy là hoàn toàn có thật, nó diễn ra trong lễ truy điệu của Chủ tịch nước Trần Đại Quang (xem video)
2. Xem video dưới chúng ta có thể thấy đ/c Nguyễn Tấn Dũng đang nhìn về hướng quan tài chứ không nhìn TBT, tuy nhiên, do góc máy chụp nên thành ra thế!
3. Bọn phản động luôn tìm mọi sơ hở nhỏ nhất để cấu xé, nói xấu chế độ. Tuy nhiên chúng ta cũng cần khách quan khi xem xét một sự vật, hiện tượng. Không thể theo kiểu "tay nhanh hơn não" như bọn chúng
PS: Không có gì to tát cho hình ảnh này
#HP


Chia rẽ
Những ngày qua, khi cả đất nước đang vô cùng thương tiếc và ngậm ngùi trước sự ra đi của đồng chí Chủ tịch nước, thì đâu đó vẫn còn tồn tại những kẻ dửng dưng, thờ ơ và bất kính trong ngày Quốc tang của cả toàn dân tộc.
Như thường lệ, thật đáng buồn những kẻ đó lại xuất phát từ đạo Công giáo, tuy rằng chúng chỉ là số ít nhưng trong những thời khắc này, chúng thật sự đã làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và đức tin của rất rất nhiều người Công giáo tốt còn lại.
Và tôi thấy thấm
thía với hai hình ảnh hoàn toàn đối lập mà tôi nói sau đây, đó là khi tôi đọc được thông báo của 1 ngôi chùa nhỏ gần nơi tôi sinh sống về việc hoãn tổ chức Tết Trung thu cho các phật tử của chùa và các cháu nhỏ ở xung quanh khu vực gần đó, với lí do để thể hiện lòng tiếc thương đồng chí Chủ tịch nước Trần Đại Quang trong những ngày đầu khi đồng chí vừa mới từ trần và hình ảnh Giáo hội Phật giáo tỉnh Ninh Bình tổ chức lễ cầu siêu cho đồng chí Trần Đại Quang tại quê nhà. Như thường lệ, thật đáng buồn những kẻ đó lại xuất phát từ đạo Công giáo, tuy rằng chúng chỉ là số ít nhưng trong những thời khắc này, chúng thật sự đã làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và đức tin của rất rất nhiều người Công giáo tốt còn lại.
Và tôi thấy thấm
Đối lập với đó là hình ảnh trang mạng có tên “Truyền thông Công giáo Vinh” với bài đăng nội dung “Đảng và nhà nước cần tuyển gấp khoảng 100000 người khóc mướn hai ngày liên tục: 26-27/09...”. Điều này làm tôi thực sự xót xa cho 1 bộ phận mà nhận thức của họ không bằng 1 con ếch ngồi trong đáy giếng như vậy.
Bởi vì theo tôi được biết và đã được đọc qua, giáo lý, giáo luật của bất kỳ tôn giáo nào cũng hướng con người đến những điều lẽ phải, điều tốt đẹp trong cuộc sống, dạy con người sống biết ơn và mở rộng tấm lòng bao dung với vạn vật, quan trọng là những người đi theo tôn giáo đó có thực hiện đúng những gì đã được dạy, được học hay không thôi.
Dân tộc ta từ ngày dựng nước đến nay đã trải qua bao lần thăng trầm, biến động lịch sử và những ngày vừa qua có lẽ cũng là nốt trầm lớn nhất mang theo sự tổn thất, mất mát to lớn của đất nước, trong những nốt trầm buồn, biến cố đó, tôi cảm nhận thấy Phật giáo đã luôn thể hiện sự khăng khít, keo sơn cùng vận mệnh quốc gia, dân tộc. Và nếu đồng bào Công giáo cũng nhanh chóng gột rửa được những thành phần “con sâu làm rầu nồi canh” để đồng hành cùng sự phát triển, vững mạnh của đất nước thì mọi thứ sẽ thật tốt đẹp.
(Chun TĐ47)!!!
Bởi vì theo tôi được biết và đã được đọc qua, giáo lý, giáo luật của bất kỳ tôn giáo nào cũng hướng con người đến những điều lẽ phải, điều tốt đẹp trong cuộc sống, dạy con người sống biết ơn và mở rộng tấm lòng bao dung với vạn vật, quan trọng là những người đi theo tôn giáo đó có thực hiện đúng những gì đã được dạy, được học hay không thôi.
Dân tộc ta từ ngày dựng nước đến nay đã trải qua bao lần thăng trầm, biến động lịch sử và những ngày vừa qua có lẽ cũng là nốt trầm lớn nhất mang theo sự tổn thất, mất mát to lớn của đất nước, trong những nốt trầm buồn, biến cố đó, tôi cảm nhận thấy Phật giáo đã luôn thể hiện sự khăng khít, keo sơn cùng vận mệnh quốc gia, dân tộc. Và nếu đồng bào Công giáo cũng nhanh chóng gột rửa được những thành phần “con sâu làm rầu nồi canh” để đồng hành cùng sự phát triển, vững mạnh của đất nước thì mọi thứ sẽ thật tốt đẹp.
(Chun TĐ47)!!!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







