Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017
Cách mạng Tháng Tám: Khởi đầu là phi bạo lực
QĐND - Năm 1964, Nhà xuất bản Princeton University Press xuất bản tuyển tập “Chủ nghĩa Cộng sản và Cách mạng: Các cách áp dụng chiến lược bạo lực chính trị” của 13 nhà nghiên cứu phương Tây.
Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam được khảo sát trong bài nghiên cứu riêng của tác giả Gioóc-giơ Mô-đen-xki (George Modelsky), nhan đề “Đồng bộ Cách mạng Việt Minh”, trong đó ông viết: Khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 sâu rộng nhưng hầu như phi bạo lực. Tuy nhiên vòng vây kẻ thù đã khiến Việt Nam lại phải cầm súng, và đạt được nghệ thuật chiến tranh trình độ cao chỉ sau một số năm, cùng với một chiến lược ngoại giao mềm dẻo.
Giành chính quyền không đổ máu
Cho rằng sự nghiệp của cách mạng Việt Nam trong hai thập kỷ qua là “đặc biệt phong phú về kinh nghiệm làm cách mạng”, tác giả Gioóc-giơ Mô-đen-xki đánh giá như sau:
Một ví dụ cho giành chính quyền gần như không dùng bạo lực, hoặc bạo lực tối thiểu, chính là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây cũng là cuộc cách mạng được cả Việt Nam và Mát-xcơ-va tự hào. Cuộc cách mạng này được nói đến như một sự kiện tiếp cận tới một khái niệm mà các tác phẩm lý luận gần đây (giữa những năm 60 của thế kỷ trước) ở Liên Xô gọi là “sự quá độ một cách hòa bình sang chủ nghĩa xã hội”.
Mít tinh Tổng khởi nghĩa ngày 19-8-1945 ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Ảnh tư liệu.
Theo chính sử Việt Nam, có 5 bài học của Cách mạng Tháng Tám: Chuẩn bị kỹ càng cả về chính trị tư tưởng và tổ chức (gồm huấn luyện cán bộ, xây dựng căn cứ địa kháng chiến; thành lập lực lượng vũ trang); bắt kịp thời cơ; phát động cao trào cách mạng của toàn dân nhằm đạt được sự ủng hộ của đại đa số nhân dân bằng cách kết nạp vào phong trào “không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo”; kết hợp khôn khéo các hình thức đấu tranh vũ trang với các hình thức đấu tranh chính trị, đồng thời chuyển dần từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang; lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ và sự phân tán lực lượng chủ lực của đối phương.
Nhật và Pháp được xác định là kẻ thù chính, các trào lưu dân tộc chủ nghĩa khác ở trong nước cần được thu hút theo hướng ủng hộ phong trào Việt Minh.
Có thể thấy “đơn thuốc” trên không chỉ là lý thuyết hay thực tiễn riêng của Việt Minh, mà chính là công thức thực nghiệm từng đưa đường cho mọi cuộc nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Việt Minh trên thực tế đã thể hiện mình rõ rệt trong thực hiện đúng “đơn thuốc”, chủ yếu là trong các khâu chuẩn bị lực lượng kỹ càng và trong nắm bắt thời cơ hành động. Khâu đánh giá tình hình của họ là tuyệt vời.
Người trước, súng sau
Mô-đen-xki viết tiếp: “Về thực tiễn, các điểm nổi bật của các bài học cách mạng rõ ràng là chiến tranh du kích, thành lập quân đội và xây dựng các căn cứ địa để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Các học thuyết của Liên Xô trước năm 1940 không gắn tầm quan trọng cho các nguyên tắc chỉ đạo nêu trên. Các tài liệu xuất bản từ thời đầu của Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh việc vận động những người lính hoặc cả đơn vị của quân đội đối phương chuyển sang hàng ngũ cách mạng, theo cung cách cuộc Cách mạng Nga năm 1917, đồng thời cung cấp nhiều tư duy về tổ chức mạng lưới cách mạng ở đô thị hơn là ở nông thôn”.
Bìa cuốn sách “Chủ nghĩa Cộng sản và Cách mạng: Các cách áp dụng chiến lược bạo lực chính trị”.
Mô-đen-xki dẫn quan điểm “súng đẻ ra chính quyền” do Mao Trạch Đông đưa ra năm 1928: “Công cuộc xây dựng một quân đội là mắt xích mấu chốt trong xây dựng căn cứ; thiếu một quân đội, hoặc với một quân đội không mạnh, chẳng thể làm gì” để khẳng định rằng Việt Minh đã có một thực tiễn khác biệt: “Mặc dù Việt Minh nhận biết cả tầm quan trọng của xây dựng căn cứ địa cách mạng lẫn xây dựng quân đội, nhưng đặc thù căn bản hoạt động của Việt Minh là nhấn mạnh tầm quan trọng tột bậc của công tác chính trị và dành ưu tiên hàng đầu cho xây dựng mạng lưới hoạt động đấu tranh chính trị tại địa phương, chứ không vội vàng lập ra các đơn vị du kích. Có thể nói sự chuẩn bị kỹ càng về chính trị là đặc trưng cho hoạt động kiểu Việt Minh”.
Cho rằng một đặc tính của Mặt trận Việt Minh là sự khéo léo trong áp dụng vũ lực, Mô-đen-xki viết: “Lực lượng Việt Minh hai thập kỷ nay đã đấu tranh trên nhiều mặt trận. Trong giai đoạn này, sự áp dụng vũ lực của họ đã trưởng thành, trở thành một nghệ thuật. Xét trong bối cảnh đặc thù Việt Nam, các chiến thuật quân sự về tác chiến rừng núi của Việt Minh là tuyệt vời. Sẽ là sai hướng nếu mô tả Việt Minh như những du kích, dù ban đầu lực lượng của họ là bán chính quy. Trên thực tế họ có một quân đội thường trực được huấn luyện và vũ trang đầy đủ, được hỗ trợ bởi các lực lượng cả quy mô vùng lẫn tại chỗ, nhưng lại tác chiến kiểu chiến tranh du kích, để khai thác yếu tố bất ngờ và sự linh hoạt trong tác chiến trên khắp các địa hình. Kỹ năng quân sự của Việt Minh cuối cùng đã từng đánh bại đội quân viễn chinh được huấn luyện đồng bộ và được trang bị tối tân của nước Pháp công nghiệp”.
Một kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám được Mô-đen-xki nêu là trấn áp các phần tử phản động. Việt Minh đã không nhằm tiêu diệt các phần tử này, mà nhằm đạt hiệu ứng răn đe, chế áp về tinh thần.
Sách lược mềm dẻo
Mặc dù Tổng khởi nghĩa năm 1945 thành công, sau đó Việt Nam vẫn rơi vào cuộc chiến do những lợi ích của thực dân. Những năm kháng chiến tiếp sau, Mô-đen-xki nhận định là vô cùng ác liệt, gian lao, với thương vong không hề nhỏ.
Mô-đen-xki khảo sát quan hệ của cách mạng Việt Nam với các trào lưu khác, qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh viết trong nửa cuối thập kỷ 50 và nửa đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, cũng như “Hồ Chí Minh tuyển tập” để nêu quan điểm về vai trò Cách mạng Tháng Mười đối với Cách mạng Tháng Tám. Ông viết: “Đảng cầm quyền ở Việt Nam là một Đảng Cộng sản chính thống. Những lãnh tụ đầu tiên của Đảng này được đào tạo ở Liên Xô và cảm hứng về tư tưởng của Đảng này là mô hình Xô-viết. Vì thế các đường lối của Quốc tế Cộng sản được tuân thủ và tiếp tục được tuân thủ kể cả sau khi Quốc tế Cộng sản giải thể. Chẳng hạn, trong cuốn “Cách mạng Tháng Mười và sự nghiệp giải phóng các dân tộc phương Đông” in tại Mát-xcơ-va năm 1957, Hồ Chí Minh đã đề cao ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười và vai trò của Liên Xô trong suốt chiều dài, mà chỉ nhắc đến sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp và của Đảng Cộng sản Trung Quốc có một lần. Nhưng tới năm 1960, trong sách “Chủ nghĩa Lê-nin và giải phóng các dân tộc bị áp bức”, sự giúp đỡ của Trung Quốc được Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều hơn, nhưng khó xem đây là tín hiệu cho thấy Việt Nam đã đứng sang phía Trung Quốc trong cuộc bất hòa Xô-Trung. Đây chắc chỉ là cách Việt Nam cho thấy mình duy trì quan hệ tốt với cả hai bên”…
Mô-đen-xki dẫn cuốn sách “Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để chỉ ra hai đặc tính nữa của cuộc cách mạng Việt Nam là xảy ra ở một nước nhỏ, yếu và mang bản chất chống thuộc địa, nhằm giành độc lập dân tộc. Tác giả viết: “Trong suốt quá trình tranh đấu, các lãnh tụ Việt Minh đã nhận thức vô cùng rõ ràng rằng các hoạt động của phong trào này được tiến hành trong một nước nhỏ, phụ thuộc vào hành xử của các nước lớn, dù là nước bạn bè hay thù địch. Nhiều chính sách từ ngày đầu độc lập của Việt Minh bao gồm cả nghi binh và giấu lực lượng, cũng như với những thỏa hiệp với Pháp và Quốc dân Đảng Trung Quốc là do tình thế phải tồn tại giữa lợi ích chồng chéo của các siêu cường ép buộc. Bất chấp sách lược mềm dẻo mà họ có được và đang áp dụng, Mặt trận Việt Minh vẫn rất khó khăn khi tiến hành cách mạng chỉ bằng sức mình trong một đất nước nhỏ. Những năm ròng gian khó là phải trải qua để duy trì được những thành quả, cách mạng Việt Nam đang ngày một tăng cường thế và lực của nó…”.
Do các lý do như phong trào cách mạng Việt Nam chủ yếu gắn với khát vọng giành độc lập dân tộc, tác giả cho rằng hình mẫu Mặt trận Việt Minh sẽ không lan rộng ra khỏi biên giới nước này. Bất chấp những nghiên cứu như của Mô-đen-xki và các tiếng nói tỉnh táo khác, Giôn-xơn (Johnson) và Mắc Na-ma-ra (McNamara) vẫn đổ quân vào Nam Việt Nam năm 1965.
LÊ ĐỖ HUY (trích dịch)
NGUỒN: http://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/cach-mang-thang-tam-khoi-dau-la-phi-bao-luc-500691
Phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ
Phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộhttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/xay-dung-dang/2017/47447/Phat-huy-vai-tro-cua-nhan-dan-trong-dau-tranh-ngan-chan.aspx
Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017
LUẬN ĐIỂM “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THỜ Ơ VỚI THIỆT HẠI CỦA BÃO LŨ” LÀ MỘT SỰ CHỐNG PHÁ HÒNG CHIA RẼ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI DÂN!
Nam Lý
Trên trang
khai dân trí (mạng internet) ngày 17/10/2017, tác giả Đoàn Thùy Dương, Việt
kiều sống tại Bắc Âu, cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam thờ ơ với thiệt hại của
bão lũ và đưa ra nhiều nội dung bình luận khác kèm theo nội dung này.
Xin được trao
đổi với tác giả Đoàn Thùy Dương: luận điểm này thực chất là sự hằn học đối với
đất nước, đối với dân tộc, đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nội dung của luận
điểm là không đúng với những gì ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng là cách “dựa vào
sự kiện, hiện tượng” để chống phá Đảng hòng chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với
Nhân dân.
Thực tế, do
mưa lũ kéo dài trong những ngày qua trên diện rộng ở nhiều tỉnh thành trong cả
nước gây ngập lụt, sạt lở…làm thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân
là có thật. Sự “có thật” mà không ai mong muốn.
Trước tình
hình mưa lũ và diễn biến phức tạp của thời tiết, Đảng, Nhà nước, các cấp, các
ngành, các lực lượng của cả hệ thống chính trị đã chủ động, sâu sát vào cuộc
một cách quyết liệt để đối phó với mưa lũ gây ra nhằm khắc phục, làm hạn chế
thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân dân. Điều này thể hiện bản
chất tốt đẹp của một thể chế chính trị của xã hội mới, xã hội mà quyền làm chủ
thuộc về nhân dân. Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị thường xuyên quan
tâm chăm lo hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân là đối tượng được chăm lo một cách
toàn diện. Việc quan tâm, chăm lo cho đồng bào khi gặp khó khăn, thiên tai là
chức năng, bổn phận của Đảng Nhà nước…, điều này được thực tế chứng minh trong
lịch sử và hiện tại mà không ai có thể chối cãi được.
Thế mà, tác
giả Đoàn Thùy Dương cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam thờ ơ với thiệt hại của
bão lũ” là một sự hồ đồ, không đúng với thực tế ở Việt Nam. Sự hồ đồ gắn với
mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam là không thể chấp nhận được.
Cần cực lực phản đối luận điểm trên của tác giả Đoàn Thùy Dương.
NHỮNG LỖI PHẠM “TRÁI VỚI VIỆC ĐẠO, VIỆC ĐỜI” CỦA MỘT SỐ LINH MỤC
Hồng
Thủy
Trong những năm qua, các tôn giáo với
đường hướng hành đạo tiến bộ phù hợp với lợi ích dân tộc đã hướng tín đồ tham
gia vào công cuộc đổi mới đất nước. Trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa,
y tế, giáo dục, hoạt động nhân đạo từ thiện… đã xuất hiện nhiều gương tiêu biểu
của giáo dân, giáo sĩ, chức sắc tôn giáo. Tuy nhiên, thời gian gần đây, dư luận
của một bộ phận lớn nhân dân Việt Nam, trong đó có cả những người Công giáo
chân chính hết sức bất bình, phẫn nộ trước các hành vi, hành động “trái với
việc đạo, việc đời” của một số linh mục, nổi bật là
linh mục: Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Ngọc
Nam Phong...
Dựa vào những chuẩn mực của pháp lý của nhà nước và
đạo lý Kitô giáo, xét những
hành vi và việc làm của một số linh mục trên thực tế cho thấy, những lỗi
sai phạm của các vị linh mục này được bộc lộ ở một số điểm sau:
Về mặt đời: Các
vị linh mục này đã tổ chức nhiều hoạt động
vượt qua ngưỡng giới hạn của hoạt động tôn giáo, vi phạm pháp luật có hệ thống,
để lại những tai tiếng xấu làm hoen ố phương châm sống "tốt đời - đẹp
đạo" mà tín đồ các giáo hội, giáo phận đã bồi đắp bấy lâu nay. Xin được
tạm thời liệt kê một vài hoạt động dưới đây:
Đối
với Linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Đình Thục (quản xứ Song Ngọc xã Quỳnh Ngọc,
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Vào tháng 7 năm 2012, linh mục Thục bất chấp
quy định pháp luật của nhà nước quy định về pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, tổ chức sinh hoạt tôn giáo trái pháp
luật ở Con Cuông, Nghệ An, khi lực lượng chức năng vào tuyên truyền, thuyết phục, linh mục
Nguyễn Đình Thục đã tổ chức cho giáo dân chống lại, bắt giữ cán bộ chính quyền
trong trụ sở sau đó ra bản tường trình sự việc có nội dung không trung thực. Sau
sự việc trên, Tòa Giám mục Xã Đoài đã buộc phải chuyển linh mục Nguyễn
Đình Thục về giáo xứ Song Ngọc,
Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tiếp đến vào tháng 01 năm 2013, linh mục Nguyễn Đình Thục có hành vi gây
rối trước cổng tòa án, chỉ trích chính quyền ngăn cản tham dự phiên tòa xử một
số thanh niên công giáo có hoạt động lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống nhà
nước. Gần đây là sự việc liên quan đến sự cố ô nhiễm môi trường biển miền trung,
thì linh mục Nguyễn
Đình Thục cùng linh mục Đặng Hữu
Nam, linh mục Trần Đình
Lai (Hà Tĩnh), linh mục Hoàng
Duy Ngợi (Quảng Bình)…đã lợi dụng các hoạt động khiếu kiện hợp pháp tập trung
đông đảo giáo dân tuần hành, biểu tình, trương băng rôn, khẩu hiệu, trả lời đài
báo phản động ở nước ngoài RFA…tuyên truyền, xuyên tạc sai sự thật. Bên cạnh
đó, từ ngày 05 đến ngày 06 tháng 12 năm 2016, linh mục Nguyễn Đình Thục đã sang Đài Loan để câu
kết cùng với Nguyễn Văn Hùng - một linh mục quốc tịch Úc gốc Việt, đang sống
tại Đài Loan và đại diện một số tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân để xin
các dân biểu Đài Loan can thiệp đến vụ ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra.
Sau khi về nước, Nguyễn Đình Thục đã câu kết với các đối tượng của tổ chức
khủng bố Việt Tân để kích động, lôi kéo người dân trong đoàn giáo dân đi khởi
kiện ngày 14 tháng 02 năm 2017, tổ chức quay phim, chụp ảnh và viết nhiều tin
bài xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp giáo dân, lôi kéo, kích động người dân
biểu tình, gây rối chống Đảng, Nhà nước… Vào ngày 15 tháng 5 năm 2017, lợi dụng
Công an tỉnh Nghệ An tiến hành bắt tạm giữ Hoàng Đức Bình về tội “chống người
thi hành công vụ; lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo quy định tại điều
257, 258 của Bộ luật Hình sự, Nguyễn Đình Thục đã kích động, lôi kéo hàng ngàn
người dân biểu tình kéo đến trụ sở Công An huyện Diễn Châu đòi thả Hoàng Đức
Bình. Sau khi được các cơ quan chức năng giải thích, người dân tự giác giải tán
ra về, song Nguyễn Đình Thục đã tìm mọi cách để gây sức ép buộc người dân tiếp
tục phải tham gia biểu tình. Hơn thế nữa, linh mục Thục và một số đối tượng cực
đoan đã đứng đằng sau kích động giáo dân quá khích gây rối, ném gạch, đá vào
lực lượng chức năng, phóng viên báo chí gây thiệt hại người và tài sản nhà
nước.
Đối với Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam (quản xứ Phú Yên, xã An
Hòa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), đã đi quá xa so với những gì thuộc về Giáo Luật Kitô
giáo. Trước, trong và ngay sau thánh lễ đêm ngày 29 tháng 4 năm
2017, linh mục Đặng Hữu Nam đã bàn cách, bày mưu, tính kế, kích động, lôi kéo, thúc ép giáo dân (dụ dỗ đưa cả trẻ em) đi biểu tình khiếu kiện để bày tỏ “niềm tin tôn giáo” trong
ngày nghỉ lễ 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5. Đặc biệt hơn nữa, là khi hành lễ trên
thánh đường, linh mục Đặng Hữu Nam thường xuyên lợi dụng rao giảng thánh lễ để xuyên
tạc, phỉ báng, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng về ngày
đại thắng mùa xuân năm 1975.
Đối
với Linh mục Nguyễn Duy Tân (quản xứ Thọ Hòa, ấp Thọ Hòa, xã Xuân Thọ, huyện
Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai), đã từng có những phát ngôn bằng video hoặc bài viết
đăng tải trên trang facebook cá nhân thể hiện những hành vi tuyên truyền chống
Nhà nước, bôi nhọ Lãnh tụ đất nước hết sức ngông cuồng: “Nếu các linh mục chúng
ta mà đoàn kết, thì Cộng Sản sẽ phải giải tán sớm thôi. Cộng sản giải tán để
cho dân đỡ khổ”; “Tôi cầu mong cho Cộng Sản đừng phạm tội ác chống lại nhân
loại"; “Tôi chỉ muốn Cộng Sản được giải thể; để cho đất nước, cho dân tộc
được tự do, dân chủ và nhân quyền”; “Vào năm 2018 chế độ Cộng Sản ở Việt Nam sẽ
giải thể, để cho Việt Nam có tự do, dân chủ và nhân quyền”; “Đồng tình ủng hộ
Vũ Quang Thuận thực hiện phương thức đấu tranh bất bạo động để giải thể chế độ
Cộng Sản tại Việt Nam”; “Cộng Sản luôn đóng vai ác, Hoa Kỳ luôn đóng vai thiện”;
"Hiến kế cho Sài Gòn hết kẹt xe: Bước 1, giải tán đảng Cộng sản”. Đây là
những lời lẽ bịa đặt vô căn cứ, mang tính chất chủ quan cá nhân của vị linh mục
chống phá cách mạng. Hành động của linh mục này từ trước đến nay là tìm mọi
cách nhằm kích động những phần tử phản động, bất mãn với Đảng, Nhà nước, chế
độ; tập hợp, tạo dựng phe cánh, gây xung đột, gây rối loạn tình hình chính trị,
xã hội và khi có điều kiện thì xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản (việc
đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần linh mục Tân
đề cập đến).
Soi
vào những hành vi, việc làm trên của
một số linh mục trong thời gian vừa qua cho thấy, các linh mục không chỉ
gây nên những sứt mẻ tình cảm với đồng bào lương dân mà còn vi phạm pháp luật
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Trong Hiến pháp nước ta đã định
rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, ... sẽ bị trừng phạt”[1].
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tôn
giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín
đồ làm nghĩa vụ công dân, làm những việc trái pháp luật. “Bảo vệ tự do tín
ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản
nước”[2].
Về mặt đạo: Các
vị linh mục này với tư cách là những chủ chăn đã
không làm tròn bổn phận, mục vụ của mình, mà còn tổ chức nhiều hoạt động vi phạm giáo lý, giáo luật
của Kitô giáo, không những không củng cố được tinh thần Phúc Âm của tín hữu, mà
đã làm gia tăng sự chia rẽ tình đoàn kết tương thân, tương ái trong đồng bào
lương giáo vốn được dày công xây đắp trong rất nhiều năm qua.
Trong thực thi trách nhiệm của Giáo hội. Một mặt, các
vị linh mục này đã làm trái với ý chỉ của Hội Thánh Việt Nam, phớt lờ lời Chúa, rao giảng tin
mừng thì ít, dâng thánh lễ qua loa, mà lợi dụng vào các hoạt động đó để nói xấu,
lăng mạ, chống đối chính quyền, bôi nhọ lãnh tụ; biến bàn thờ linh thiêng trở
thành nơi phàm tục. Điều này, trong tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách
riêng về Giáo hội” có ghi: “...Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì
như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo Hội...”. Vì vậy, việc làm của
các linh mục này đã trái với luật Hội thánh và vô tình bán rẻ Thiên Chúa một
cách không thương tiếc. Mặt khác, chính những linh mục này, lại đi làm những việc mà không thuộc phận sự của mình như:
thực hiện nghi lễ của Hội thánh ở những nơi thiếu tính tôn nghiêm, nơi đầu
đường, xó chợ, xúi giục bà con với giáo mác, gươm đao chống đối chính quyền,
gây hiềm khích sâu sắc trong cộng đồng nhân dân kể cả lương và giáo. Trong
bản Huấn thị Bộ Truyền giáo gửi cho các Ðấng Bản Quyền tại Việt Nam năm 1659 có
đoạn “...Hãy giảng cho tín hữu bổn phận trung
thành với Nhà nước, dù các vị cầm quyền là những người khó khăn. Ở chỗ riêng tư
cũng như ở nơi công cộng, đừng chỉ trích việc làm các nhà cầm quyền, ngay cả
những vị đang bắt bớ anh em....”
(Số
11/III).
Nhìn tổng thể những
hành vi, việc làm của một số linh mục như đã nêu trên
trong thời gian vừa qua cho thấy, các vị linh mục này đã làm trái cả luật Hội
thánh, tức vi phạm giáo luật là "Kỷ Luật Thánh”, đồng thời cũng sai cả luật đời, vi phạm Luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt nam. Thiết nghĩ các linh mục này cần phải
nghiêm khắc nhìn nhận những lỗi sai phạm của mình, đồng thời đề nghị Hội đồng
Giám mục Việt Nam phải có động thái thích hợp để xử lý những lỗi phạm của các
linh mục này./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)