Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Khẳng định và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ



1. Có lần được trình bày với lãnh đạo Trung ương về tình hình xuất bản để chuẩn bị ra Chỉ thị 42-CT-TW về “Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản”, tôi có một thông tin ngắn về công tác xuất bản của nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ khoảng 10 năm cuối thế kỷ 20: Người ta đã thống kê khoảng 10 nhà văn có sách xuất bản nhiều nhất trong thời gian trên phần lớn đều viết về tình dục, trinh thám giật gân, sex câu khách…

Một dấu hiệu khủng hoảng rõ rệt của một nền xuất bản lớn. Sau này, khi lên cầm quyền, Tổng thống Nga Pu-tin đã có thái độ kiên quyết định hướng điều chỉnh lại tình trạng trên. Ông đã có lần nói trước các văn nghệ sĩ Nga, đại ý: Bảo vệ tiếng Nga, ngôn ngữ Nga là bảo vệ tính cách Nga và dân tộc Nga. Ông đã ra sắc lệnh có hiệu lực từ tháng 7-2016 kiên quyết phạt tiền và buộc những tác phẩm sử dụng các từ thô tục trong sáng tác văn học, nghệ thuật phải sửa chữa mới được phát hành.

Trong một lần khác, có dịp trao đổi với một số cán bộ chỉ đạo văn nghệ của Trung Quốc, họ nêu một phương châm của Đảng Cộng sản Trung Quốc là: Một mặt, tôn trọng sự phát triển ngày càng đa dạng của văn nghệ, trong đó có cả những cái lạ, cái phức tạp, cái chưa thể kết luận và mặt khác, kiên trì huy động nhân tài, vật lực, trí lực, nguồn lực cho văn nghệ để khẳng định tư tưởng “hát vang giai điệu chính” mà nội dung cơ bản của nó là đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc, đáp ứng sự phát triển của đất nước, nhu cầu lành mạnh của nhân dân.

Cũng một lần khác, có dịp trao đổi với một số vị lãnh đạo, quản lý và hoạt động trên lĩnh vực điện ảnh của Hàn Quốc, họ tâm sự: “Chúng tôi chủ trương phát triển điện ảnh để khẳng định truyền thống và lối sống của dân tộc Hàn, để thế giới hiểu chúng tôi từ chiều sâu văn hóa và nhân cách con người Hàn Quốc”.

Vài hồi ức nhỏ như trên để bày tỏ một suy nghĩ: Trong xã hội hiện đại, một đảng cầm quyền, một nhà nước lãnh đạo và quản lý xã hội, bao giờ cũng có chủ đích: cùng với lãnh đạo chính trị, kinh tế, xã hội… phải lãnh đạo, định hướng cho sự vận động và phát triển của văn nghệ, để nó góp phần cho sự phát triển tốt đẹp của dân tộc, đất nước. Điều đó cũng có nghĩa, lãnh đạo văn nghệ không phải là sự áp đặt chủ quan của đảng cầm quyền, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của đảng đó, mà còn vì bản thân sự phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc.
Trình bày như vậy để trao đổi rằng, khuynh hướng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với văn học, nghệ thuật nước nhà, nếu loại trừ những người muốn qua đó, phủ định sự nghiệp cách mạng nói chung, thì đây là khuynh hướng thiếu tầm nhìn rộng, thiếu khoa học và mang tính định kiến chủ quan. Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực đặc thù này không phải là một quy luật phổ quát trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của văn nghệ dân tộc từ hàng nghìn năm, nhưng đó là một nhu cầu cần thiết, một đòi hỏi khách quan trong sự phát triển hết sức phức tạp, khó lường của xã hội hiện đại. Và không phải vì Đảng muốn có “uy quyền” đối với văn nghệ, mà chỉ vì mục đích phát huy cao nhất vai trò, sứ mệnh “chân, thiện, mỹ” của văn nghệ, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân, của dân tộc ta.

2. Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII một lần nữa khẳng định: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”. Xin đặc biệt lưu ý, trong âm mưu và thủ đoạn trên, các thế lực thù địch đặc biệt chú trọng lĩnh vực văn hóa - văn nghệ, vì đi cùng với âm mưu “diễn biến hòa bình” là âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi đó là kết quả, là “điểm đến” của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giành giật con người, làm biến chất con người. Vì thế, trong quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc, cùng với việc bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân…, Nghị quyết T.Ư 8 khóa X đồng thời chỉ ra yêu cầu “bảo vệ văn hóa” là một nội dung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xin nhắc lại rằng, từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ, cùng với việc các nước đế quốc âm mưu xâm lăng nước ta về quân sự, còn thực hiện âm mưu “xâm lăng văn hóa”.
Những người có quan điểm sai trái, lệch lạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ đã bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, tập hợp để thực hiện âm mưu phân hóa, phá vỡ sự đồng thuận, sự hợp lực của đội ngũ sáng tạo văn hóa - văn nghệ vì mục tiêu cao đẹp của dân tộc. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ âm mưu đó: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng”.
Có thể cụ thể hóa những quan điểm sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ ở một số biểu hiện chính như:

Nhân danh tìm tòi, đổi mới, có một bộ phận văn hóa, văn nghệ đang lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, hạ bệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc, phủ nhận quá khứ, đánh tráo phải - trái, tốt - xấu, công - tội, chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa, miêu tả cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc như một cuộc nội chiến. Một số tác phẩm dùng thủ pháp giễu nhại để vu cáo, xuyên tạc, bôi bẩn các giá trị văn hóa dân tộc từ quá khứ đến hiện tại. Từ đó, đã và đang tồn tại xu hướng phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc ta, muốn dùng văn hóa - văn nghệ để thực hiện ý đồ chính trị chống phá chế độ. Họ cố tình tạo ra ảnh hưởng tiêu cực, lệch lạc trong hoạt động tiếp nhận văn hóa cũng như trong thị hiếu của một bộ phận công chúng, đồng thời tìm cách thực hiện, quảng bá những tác phẩm chống chế độ, xuyên tạc nhằm hạ uy tín lãnh đạo, cố tình tôn vinh những kẻ đã và đang chống lại hay đi ngược đường lối cách mạng, công cuộc đổi mới dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”… Họ hô hoán “đổi gác” trong văn học, cho rằng thế hệ văn học chống Mỹ đã hết thời, phải “thay gác”, bàn giao cho thế hệ mới. Đây thực chất là sự phủ nhận văn học, nghệ thuật cách mạng và kháng chiến, kể cả sáng tác của chính mình, chia rẽ đội ngũ văn nghệ sĩ. Họ cho rằng, đó là sự sáng tác theo cái gậy chỉ huy của Đảng Cộng sản, từ đó tự coi mình là “thằng hèn”, tự than không đủ quyết tâm, như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, những kẻ bội phản Tổ quốc, chạy trốn ra nước ngoài để được “tự do” nói và viết (!).

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã sử dụng một số sáng tác xấu để tuyên truyền, thổi phồng những sai lầm của Đảng, Nhà nước, từ đó hủy hoại niềm tin của người tiếp nhận đối với lý tưởng của Đảng. Chúng ta không phủ nhận rằng, trong quá trình lãnh đạo nhà nước và xã hội, Đảng ta đã không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm mà chính Đảng đã nhận thức rõ, nghiêm khắc tự phê phán và đưa ra những giải pháp khắc phục. Việc Đảng ra Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII vừa qua thể hiện sáng rõ điều đó. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một bộ phận văn nghệ sĩ cố tình lờ tránh điều đó, sáng tác và truyền bá, cổ xúy cho những tác phẩm chỉ nhấn mạnh một chiều cái xấu, cái ác, phủ một màu đen lên hiện thực muôn màu của đời sống, dẫn đến tâm lý hoài nghi, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của đất nước.

Nhưng gần đây xuất hiện một khuynh hướng cố tình đề cao, “chiêu tuyết” một số tác giả, tác phẩm đã bị lịch sử, nhân dân phê phán và một số tác giả đã từng có khuynh hướng chống cộng trước đây. Đây là một loại hoạt động khá phổ biến, nguy hiểm và tinh vi nằm trong âm mưu, chiến lược diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ. Tất nhiên, chúng ta phải có thái độ “gạn đục khơi trong” và cả sự tỉnh táo, khách quan xem xét lại một số hiện tượng, sự kiện trong quá khứ, song không thể dưới chiêu bài “nhận thức lại”, đánh giá khách quan lịch sử, để dẫn tới khuynh hướng dần dần cố tình “chiêu tuyết” cho tất cả tác giả, tác phẩm đã bị lên án một cách chính xác, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Ở một vài trường đại học đã xuất hiện khuynh hướng lựa chọn các tác phẩm loại trên làm đề tài nghiên cứu luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp đại học, sau đại học. Hình như, chúng ta còn lơ là, chủ quan với xu hướng có tác hại lâu dài này. Ở đây, chúng tôi trích lại một đoạn trong bài viết của Thu Tứ - con trai của Võ Phiến, một nhà văn đã có những biểu hiện chống cộng trong một số sáng tác của mình ở miền nam Việt Nam thời chống Mỹ: “Chẳng ai muốn chỉ ra cái sai của người đẻ ra mình! Chúng tôi làm việc này vì vừa được biết một tổ chức phi chính quyền trong nước đang có kế hoạch tích cực phổ biến những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến chứa nội dung chính trị sai lầm. E rằng việc làm của họ có thể khiến một số người đọc hoang mang, ảnh hưởng tới đoàn kết dân tộc, chúng tôi quyết định tự mình phản bác nội dung này… Sẽ hết nhóm nọ đến phe kia những lúc nào đó đem vận dụng văn nghiệp Võ Phiến một cách có hại cho đất nước. Phải làm cho thật rõ về cái phần nội dung chính trị sai lầm trong văn nghiệp ấy ngay từ bây giờ” (Thu Tứ, Báo Nhân Dân, ngày 7-10-2014).
Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông là sự du nhập ồ ạt từ bên ngoài vào Việt Nam nhiều lý thuyết, quan điểm, trường phái (cả lý luận, phê bình và sáng tác) văn học, nghệ thuật tiên tiến, tích cực có, tiêu cực, lỗi thời, phản động có. Sự xâm nhập của một số tác phẩm độc hại đã tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận người tiếp nhận, nhất là thanh, thiếu niên, làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đọa làm cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, chuẩn mực sống và niềm tin của con người. Tiếp nhận, học tập có chọn lọc các thành tựu lý luận văn nghệ ở bên ngoài là rất cần thiết để khắc phục những biểu hiện lạc hậu, xơ cứng của hệ thống lý luận văn nghệ cũ, từ đó, khẩn trương hiện đại hóa lý luận, phê bình văn nghệ. Tuy nhiên, vẫn có biểu hiện tâm lý “sính ngoại”, thiếu khả năng chọn lọc, đánh giá trong tiếp nhận để lại rơi vào tình trạng cực đoan khác, phủ nhận quan điểm Mác – Lê-nin về văn hóa - văn nghệ, chỉ đề cao một chiều các lý thuyết bắt nguồn từ thực tiễn văn học, nghệ thuật phương Tây, trong đó có trào lưu, khuynh hướng đã suy tàn từ mấy chục năm nay mà vẫn có người trong giới nghiên cứu đề cao, vận dụng như là rất mới, rất sáng tạo! Xu hướng trên đã gây ra sự lệch chuẩn, loạn chuẩn và “gây nhiễu” trong sáng tác cũng như nghiên cứu lý luận, phê bình văn nghệ.

3. Phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ để khẳng định tính cấp thiết phải có sự lãnh đạo, định hướng của Đảng đối với lĩnh vực có nhiều đặc thù này. Song, khẳng định không phải là đủ, là “yên tâm”, mà trái lại, cần tỉnh táo đặt ra yêu cầu mới về tầm nhìn xa, về năng lực lãnh đạo, về khả năng thấu hiểu, nắm vững những quy luật đặc thù trong lĩnh vực này để có thể lãnh đạo, chỉ đạo đúng và trúng.
Năm 1989, tôi đang phụ trách Phòng Văn nghệ quân đội thì được Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ kiêm Trưởng Đoàn ca múa quân đội (nay là Nhà hát quân đội). Xuống đoàn nhận nhiệm vụ, tôi xúc động khi nhìn tấm ảnh Bác Hồ ngồi trên thềm nhà giữa hàng trăm diễn viên, hình như Người đang trò chuyện rất thân tình với văn nghệ sĩ. Hình ảnh đó tác động sâu sắc đối với tôi. Tôi nghĩ rằng, xuống đoàn không phải chỉ để lãnh đạo, chỉ huy, mà phải để học thêm, để yêu thêm nghệ thuật, để đồng cảm với sự sáng tạo của nghệ sĩ. Tình yêu, sự nhiệt huyết, sự thấu hiểu là điều kiện không thể thiếu bảo đảm cho sự lãnh đạo văn hóa - văn nghệ. Từ tình yêu, sự đồng cảm và sự thấu hiểu đó, Bác Hồ đã chinh phục hoàn toàn tình cảm, sự kính phục của các thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam. Từ đó, Người đã có một tầm nhìn xa và cực kỳ sâu sắc về vai trò, vị trí của văn hóa - văn nghệ trong toàn bộ sự phát triển của đất nước, khi Người khẳng định dứt khoát: Trong sự phát triển bền vững của dân tộc, cần coi trọng ngang nhau cả bốn yếu tố: chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Tôi nhớ một câu chuyện của nhà thơ Hoàng Cầm kể về danh tướng quân sự, chính trị - Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Vào khoảng năm 1952, khi đang làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chân tình, thẳng thắn, khiêm nhường tâm sự với Hoàng Cầm: “Tôi rất “dốt” về văn nghệ… Không biết gì về văn chương, nghệ thuật thì lãnh đạo thế nào được văn nghệ sĩ?... Vậy các anh phải làm như giáo viên giảng giải cho tôi biết về văn thơ, nhạc, hội họa, kịch, cả múa nữa… Và như thế, tôi còn phải học mãi, học mãi để tôi nắm chắc được cái vũ khí vô cùng lợi hại là văn nghệ, thì tôi làm việc của Đảng và Nhà nước giao phó mới có thể thành công”. Và từ đó, Đại tướng đã thật sự học trong nhiều năm. Sau này, nhà thơ Hoàng Cầm tâm sự: “Tôi thấy Anh thật sự xứng đáng là người lãnh đạo mình và các văn nghệ sĩ trong quân đội”. Bể học là mênh mông, bể học văn hóa - văn nghệ lại càng sâu thẳm, không có kết thúc. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã hoàn thành xuất sắc và vô cùng độc đáo vai trò lãnh đạo văn nghệ trong quân đội những năm từ 1950 đến khi ông vào nam chiến đấu. Bài học đó thật sự sâu sắc đối với các thế hệ lãnh đạo văn nghệ. Điều đó có nghĩa là khẳng định vai trò lãnh đạo văn nghệ của Đảng đồng thời phải gắn với yêu cầu không ngừng nâng cao tình yêu, sự thấu hiểu, đồng cảm, tầm nhìn xa và vốn hiểu biết sâu sắc văn hóa - văn nghệ của sự lãnh đạo. Đó là đòi hỏi khách quan, không thể né tránh.

GS, TS ĐINH XUÂN DŨNG
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/32945802-khang-dinh-va-nang-cao-nang-luc-lanh-dao-cua-dang-tren-linh-vuc-van-hoa-van-nghe.html

Đừng bán rẻ lương tâm!



Dù nấp dưới chiêu bài nào thì tổ chức khủng bố “Việt tân” và các phe nhóm “cờ vàng” vẫn không thể chối cãi vai trò chủ chốt trong các âm mưu, thủ đoạn phá hoại sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Nhưng một số người vì đồng tiền, vì muốn được bảo trợ để ra nước ngoài,... hoặc không nhận ra bản chất đen tối đó mà có hành vi tiếp tay cho kẻ xấu.
Nhiều năm nay, thường thì mỗi khi có thành viên tổ chức khủng bố Việt tân (Việt tân) bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử, tuyên phạt án tù là y như rằng họ chối bay chối biến việc mình không phải là thành viên “Việt tân”! Chỉ đến khi được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam để định cư ở nước ngoài thì họ mới công khai thừa nhận. Điển hình là Trần Khải Thanh Thủy. Bị bắt và bị xét xử, người này không nhận là thành viên Việt tân, nhưng sau khi tới Mỹ thì tự thừa nhận là người "Việt tân". Nhưng khoảng một năm sau, trước những ứng xử lường gạt của Việt tân, trong một bài phỏng vấn, Trần Khải Thanh Thủy đã chỉ mặt vạch tên, và đánh giá tổ chức khủng bố này: “Chắc chắn mình chỉ thua họ về sự lèo lá, mánh khóe, ăn bẩn mà thôi...”.
Gần đây là Đặng Xuân Diệu. Tại Cáo trạng số 09/VKSTC-V2 ngày 18-9-2012 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khẳng định Đặng Xuân Diệu tham gia và được Việt tân kết nạp ngày 29-8-2009 tại Thái-lan; đã ba lần xuất cảnh ra nước ngoài để gặp gỡ một số đối tượng cầm đầu của Việt tân và tham gia các khóa huấn luyện do Việt tân tổ chức; đã giới thiệu Nguyễn Xuân Kim, Trần Minh Nhật với Hồ Đức Hòa để Việt tân tuyển lựa, kết nạp; đã được Việt tân trang bị phương tiện máy móc... Vì những hành vi đó, Đặng Xuân Diệu đã phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam; Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt Đặng Xuân Diệu bản án 13 năm tù giam và 5 năm quản chế sau khi mãn hạn tù. Đầu năm 2017, nhờ sự khoan hồng của Nhà nước, Đặng Xuân Diệu được xuất cảnh sang Pháp chữa bệnh. Ở Pháp, Đặng Xuân Diệu được Việt tân bảo trợ và trang facebook của người này trưng ngay ra mấy chữ cho biết chủ nhân là thành viên Việt tân. Ngày 10-4-2017, thật bi hài là trong bài viết đăng trên facebook, Đặng Xuân Diệu kể và ngao ngán than vãn: “Ba tiếng đồng hồ đi rong xin người ta ký vào thư kiến nghị giải quyết thảm họa Formosa, nhưng không được người nào chấp nhận. Có thể do con chưa biết ngôn ngữ đủ để thuyết phục người ta, nhưng con cũng đã dùng các phương tiện công nghệ hỗ trợ, cho họ xem thông tin mà họ vẫn nhún vai, lắc đầu”! Mấy bức ảnh có Đặng Xuân Diệu giơ “thư kiến nghị” trên đầu đứng chơ vơ giữa phố mà không ai buồn ngó ngàng, đã không chỉ cho thấy sự lố bịch, lạc lõng của anh ta, mà còn cho thấy sự thảm hại có nguồn gốc từ u mê, ngông cuồng của mấy kẻ tự lường gạt mình và lường gạt người khác. Nhưng “đâm lao phải theo lao”, Đặng Xuân Diệu không thể làm khác, chỉ có diễn mấy trò hề như thế anh ta mới có thể trả ơn kẻ đã bảo trợ, chăm lo, cũng là nuôi sống chính anh ta trong cuộc mưu sinh chưa hứa hẹn bất cứ điều gì khả dĩ với một kẻ không nghề nghiệp nhưng quen kiếm sống bằng vu cáo, chửi bới chính quyền, gây rối xã hội.
Đó không phải là số phận riêng của Trần Khải Thanh Thủy, Đặng Xuân Diệu, mà là số phận chung của những kẻ cùng hội cùng thuyền với hai người này, vì từ khi định cư ở nước ngoài đến nay, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải (Điếu cày),... cũng bẽ bàng tương tự. Người trước kẻ sau, hễ xuống sân bay ở nước ngoài là họ vội vã ca ngợi “thế giới tự do”, cảm ơn người giúp họ xuất ngoại, vu cáo Nhà nước Việt Nam, và hứa hẹn “tiếp tục đấu tranh”! Song sau ít ngày được Việt tân và “băng đảng cờ vàng” tán dương như “người hùng”, họ lần lượt trở về với “cái máng lợn” của “vợ ông lão đánh cá”, rồi để duy trì “tiếng tăm”, thi thoảng họ trả lời phỏng vấn của RFA, VOA, BBC, RFI,...! Vậy tại sao trước nhiều gương tày liếp thảm hại như thế mà vẫn có người mù quáng a dua, đi theo họ?
Ở Việt Nam đã xuất hiện một nghề chưa từng có trong từ điển nào, đó là nghề “kinh doanh dân chủ”. Điểm nổi bật của loại “kinh doanh” này là người tham gia không cần bỏ vốn liếng, nếu có kỹ năng thì họ sử dụng máy tính, điện thoại thông minh từ nước ngoài cung cấp để nói xấu chế độ, vu cáo, bịa đặt, đổi trắng thay đen. Còn kẻ muốn “kinh doanh dân chủ” nhưng không biết dùng máy tính, điện thoại thì phải sành nghề “rạch mặt ăn vạ”, không ai động vào vẫn lăn quay ra đường như bị đánh đập dã man! Những khả năng này phát huy đến đâu thì “đẳng cấp con buôn dân chủ” cũng nâng lên đến đó, tiền bạc cũng từ đấy mà ra. “Kinh doanh dân chủ” trở thành nghề của mấy kẻ vô liêm sỉ, trục lợi trên danh dự và lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào.
Nhân đây cũng nên nhắc tới một số hiện tượng liên quan sự việc xảy ra ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An vừa qua. Công an tỉnh Nghệ An đã quyết định khởi tố, bắt tạm giam Hoàng Đức Bình vì có hành vi chống người thi hành công vụ, lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân, vi phạm Điều 257, Điều 258 Bộ luật Hình sự; đồng thời, đã ra quyết định bắt tạm giam đối với Bạch Hồng Quyền. Hiện Hoàng Đức Bình đã bị tạm giam, còn Bạch Hồng Quyền thì lẩn trốn và bị phát lệnh truy nã toàn quốc vì tội “gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự. Không biết trong khi trốn tránh pháp luật, Bạch Hồng Quyền có được ai “đùm bọc”, hay phải sống chui lủi, tận hưởng hậu quả của thói hoang tưởng ngỡ hễ “kinh doanh dân chủ” là có thể sống ngoài luật pháp? Tuy nhiên, không phải người nào “kinh doanh dân chủ” cũng được Việt tân hay “băng đảng cờ vàng” chu cấp, bảo lãnh ra nước ngoài sinh sống. Như Ngô Xuân Phúc chẳng hạn. Để được ghi danh vào nghề “kinh doanh dân chủ”, anh ta lao vào tranh giành bản quyền một bài thơ để thành “người nổi tiếng”. Ghi danh xong, anh ta tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Bị loại từ vòng hiệp thương, Ngô Xuân Phúc tuyên bố “ra khỏi đảng” rồi xăng xái ca ngợi Ngô Đình Diệm! Với vốn liếng như thế, anh ta mò mẫm đến Băng-cốc (Thái-lan) gặp Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) để xin “tị nạn chính trị”. Như tự mô tả trên trang facebook cá nhân, một năm qua, Ngô Xuân Phúc sống lắt lay, cô độc trong phòng trọ tồi tàn ở khu ổ chuột. Hết phỏng vấn này đến phỏng vấn khác, hết hứa hẹn này đến hứa hẹn khác, mà tương lai vẫn mịt mù. Như để tăng sức nặng cho bản thân và được người ta rủ lòng thương, Ngô Xuân Phúc tuyên bố “từ bỏ quốc tịch Việt Nam”, nhưng gần đây qua than thở trên facebook có thể thấy anh ta đang ở trong tình cảnh thật thê thảm.
Sau khi bị bắt theo quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam của Công an tỉnh Hà Tĩnh về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, Nguyễn Văn Hóa - một trong mấy nhân vật vốn “nổi danh” trong việc lợi dụng sự cố Formosa để chống phá Nhà nước, đã nói: “Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”. Thiết nghĩ, lời ân hận dù muộn màng song vẫn cần ghi nhận, và đó cũng là lời cảnh tỉnh đối với những ai đang còn u mê, nhắm mắt điên cuồng lao vào nghề “kinh doanh dân chủ”!
VŨ HỢP LÂN
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/32946802-dung-ban-re-luong-tam.html

Tiếng nói lạc lõng, làm tổn thương đến tình cảm và lợi ích của nhân dân Việt Nam - Hoa Kỳ


QĐND - Ngày nay, chế độ dân chủ (chế độ xã hội và nhà nước pháp quyền hình thành dựa trên các cuộc bầu cử tự do của toàn dân) và quyền con người (QCN) là những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền hợp pháp của tất cả mọi người trở thành hai giá trị phổ quát của cộng đồng nhân loại. Có lẽ, chỉ có những kẻ mù quáng, hoặc vì những lý do chính trị cá nhân mới phủ nhận QCN ở quốc gia này hay quốc gia khác.
Thật đáng tiếc, gần đây, Nghị sĩ Hoa Kỳ gốc Việt (bang California) Janet Nguyễn (J.Nguyễn) đã đăng tải thông tin-viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ hòng gây áp lực với Chính phủ Mỹ hạn chế quan hệ với Việt Nam vì lý do “nhân quyền”. Để bạn đọc trong và ngoài nước không bị bỡ ngỡ, khó hiểu về bà nghị “ngoại nhập”, tác giả bài viết này xin được cung cấp một số thông tin ngắn: Vào tháng 2 năm nay (2017)-vẫn online trên kênh YouTube), dưới tiêu đề: “Thượng nghị sĩ Mỹ gốc Việt bị tống cổ khỏi phòng họp vì xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam”. Trong clip, J.Nguyễn với giọng đầy hằn học, xấc xược đã xúc phạm cố Thượng nghị sĩ Tom Hayden và bà Jane Fonda-diễn viên điện ảnh xuất sắc Hoa Kỳ (hai người từng đến Hà Nội tham gia phản đối chiến tranh Việt Nam). J.Nguyễn còn khơi dậy hận thù, bôi nhọ chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Mặc dù người chủ trì hội nghị nhiều lần nhắc nhở, bác bỏ ý kiến của bà ta, nhưng J.Nguyễn vẫn không dừng lại, nên chủ tọa yêu cầu nhân viên an ninh đưa bà ta ra khỏi phòng họp Thượng viện California [1].  

 Ảnh minh họa.
Bây giờ xin được trở lại với nội dung cái gọi là “thư” của J.Nguyễn gửi Tổng thống Hoa Kỳ. "Thư" của J.Nguyễn viết: “Trong suốt 42 năm qua, Việt Nam chưa cho thấy bất cứ tiến bộ nào, là họ có một hồ sơ nhân quyền trong sạch, xứng đáng là đối tác với Hoa Kỳ”. J.Nguyễn và một số người đã tán phát nhiều thông tin thất thiệt nhằm áp đặt sự kỳ thị về chính trị của mình đối với chính quyền bang và hơn thế với Chính phủ Mỹ. Nhất là từ khi Chính phủ Mỹ có lời mời Thủ tướng Việt Nam thăm Hoa Kỳ và Tổng thống Hoa Kỳ có thông báo sẽ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), theo lời mời của Chính phủ Việt Nam vào tháng 11 năm nay.
Trong cái gọi là “Thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ”, J.Nguyễn viết: “Kêu gọi ông (Tổng thống Hoa Kỳ) phải bảo đảm là vấn đề nhân quyền phải được nêu ra trước tiên trong bất cứ cuộc đối thoại nào” và “Hoa Kỳ sẽ không gia tăng quan hệ với bất cứ quốc gia nào không tôn trọng nhân quyền của người dân. Và hơn nữa, bất cứ thỏa thuận nào với Hoa Kỳ phải mang tính chất bảo vệ nhân quyền cho người dân Việt Nam”. Tất nhiên, trong “thư” của J.Nguyễn có các “chứng cứ” được copy đầy rẫy trên mạng, như: “Chính quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đàn áp bất cứ ai thách thức quyền lực của họ, bao gồm các luật sư, blogger, nhà hoạt động, tổ chức xã hội dân sự và tổ chức tôn giáo”.
Để giúp cho những ai chưa có thông tin về tình hình nhân quyền Việt Nam hiểu rõ, tác giả bài viết này xin có mấy lời phân tích về cái gọi là “thư” của bà nghị J.Nguyễn:
Trước hết, những điều J.Nguyễn nói về QCN ở Việt Nam hoàn toàn trái với sự thật. Về mặt pháp lý, cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập, ký kết hầu hết các Công ước quốc tế chủ chốt về QCN. Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 2013 dành cả một chương (Chương II) quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Trong chương này, các QCN, quyền và nghĩa vụ công dân được quy định một cách đầy đủ, đồng thời tương thích với hai công ước quốc tế cơ bản về QCN.
Về các quyền kinh tế-xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá, thu nhập bình quân đầu người từ 1.024USD/năm (năm 2008) đã tăng lên 2.200USD (ước tính năm 2016). Việt Nam đã gia nhập nhóm các nước thu nhập trung bình thấp từ năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 13,7% (năm 2008) xuống dưới 5% (năm 2015). Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nhóm nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Chương trình 135 “hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn” giai đoạn III (2016-2020) [2] đã được Nhà nước đầu tư 239.316,6 tỷ đồng dành cho xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Nhà nước đã dành gói hỗ trợ 30 nghìn tỷ đồng (triển khai từ tháng 6-2013) giúp người thu nhập thấp ở đô thị cải thiện chỗ ở. Gần đây, Nhà nước quyết định giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện mức lãi suất thấp cho người vay là 4,8%/năm, thời hạn cho vay tối thiểu 15 năm và tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên.
Trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do internet: Theo thống kê, đến nay, Việt Nam đã có hơn 850 cơ quan báo in; 105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 67 đài phát thanh, truyền hình.
Ngày nay, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam đều có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn, báo chí lớn. Hiện có tới 75 kênh truyền hình nước ngoài “online”, trong đó có các kênh như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg,... Hiện có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,...
Nhiều chuyên gia đánh giá: Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet hàng đầu khu vực, đặc biệt là Facebook. Theo cơ quan thống kê của mạng Facebook, hiện tại, Việt Nam có hơn 35 triệu người trên 1/3 dân số (92 triệu người) sở hữu tài khoản Facebook. Trong số đó, 21 triệu người truy cập hằng ngày thông qua thiết bị di động. Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng lớn thứ 3 tại khu vực Đông Nam Á.
Để bảo vệ sự bình yên của xã hội, việc cơ quan an ninh theo dõi, thu thập tài liệu, chứng cứ, bắt và đưa ra xét xử đối với những người sử dụng mạng xã hội vi phạm pháp luật Việt Nam là việc làm bình thường, hơn nữa là sự cần thiết đối với mọi quốc gia trên thế giới. Về quyền của cá nhân, ở Việt Nam không ai bị bắt bớ, cầm tù nếu họ sử dụng đúng đắn các quyền của mình. Chỉ người nào có hành vi (hoạt động) vi phạm pháp luật Việt Nam với những chứng cứ cụ thể thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn, họ có những bài viết, bình luận, những văn bản, những file lưu trữ có nội dung sai sự thật-xuyên tạc lịch sử, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, dân tộc Việt Nam… làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thì mới bị xử lý theo pháp luật.
Trở lại “chứng cứ” của bà nghị J.Nguyễn cho rằng: “Vương Văn Thả và gia đình 9 người của ông hiện đang bị chính quyền Cộng sản Việt Nam quấy nhiễu, chỉ vì ông đã dám tố cáo tội ác của họ qua Facebook và YouTube”. Vậy Vương Văn Thả là ai?
Vương Văn Thả (Hai Thả) sinh năm 1969, sống ở Vĩnh Hậu, An Phú, An Giang. Y đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật, trong đó đã sản xuất, tán phát nhiều đĩa VCD với nội dung xuyên tạc chế độ xã hội, chính quyền và người dân một cách thô tục. Chẳng hạn, Vương Văn Thả chửi bới người chủ trì chùa Vạn Linh ở Núi Cấm (An Giang) là “lừa đảo toàn dân trong và ngoài nước”. Rồi việc y lăng mạ, phỉ báng ông Nguyễn Tấn Đạt, đại biểu Quốc hội đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang; vụ xúc phạm ông Phạm Văn Chôm, Chánh Văn phòng Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; tiếp đến là sự vu cáo bà Đoàn Bích Thủy, Trưởng ban đại diện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh Vĩnh Long… Thậm chí, vị cư sĩ quá cố-ông Thanh Sĩ (tên thật là Trần Duy Nhứt, sinh năm 1928 tại Sa Đéc, Đồng Tháp đã từng qua Nhật Bản nghiên cứu, giảng dạy Phật học và mất năm 1973) cũng bị Hai Thả lăng mạ. Sau vụ việc, Hai Thả tán phát đĩa VCD. Bức xúc trước hành vi vi phạm pháp luật của Hai Thả, đã có hơn 300 người dân ở phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ ký tên, kiến nghị xử lý thích đáng đối với Vương Văn Thả về hành vi xuyên tạc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Qua cái gọi là “thư” và “kiến nghị” của bà nghị sĩ “ngoại nhập” thể hiện rõ những thiếu hụt tri thức tối thiểu về QCN. Chẳng hạn, bà nghị không biết rằng QCN không chỉ là quyền của cá nhân, mà còn bao gồm cả quyền của quốc gia, dân tộc. Nói về QCN ở Việt Nam, bà chỉ “bảo vệ” những kẻ đang phá hoại cuộc sống thanh bình của xã hội. Và dường như bà này không biết đến cuộc sống của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đã thay đổi như thế nào. Về quyền của quốc gia, dân tộc, Điều 1, (Phần I), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Hoa Kỳ đã ký kết), quy định rằng: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa…”. Quy định này mặc định rằng, bất cứ quốc gia, nhà nước nào đều có quyền xây dựng chế độ chính trị; xây dựng hệ thống pháp luật với tội danh như thế nào hoàn toàn là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc mà không có bất cứ ai, quốc gia nào, thậm chí cả Liên hợp quốc cũng không có quyền can thiệp.
Với cái gọi là “thư”, J.Nguyễn còn cho thấy bà nghị không biết nhiều về QCN, trong đó có quyền tự do ngôn luận, báo chí. Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình…; việc thực hiện những quyền này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt… phải chịu một số hạn chế để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội” [3].
Cuối cùng, cái gọi là “thư” và “kiến nghị” của J.Nguyễn chỉ là hoang tưởng, làm tổn thương đến tình cảm và lợi ích của nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ. Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sau những bước thăng trầm, ngày nay đã đi đến ổn định và phát triển tốt đẹp. Sự kiện Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 7-2013) mở ra một thời kỳ phát triển mới, mạnh mẽ, bền vững giữa hai quốc gia. Tuyên bố xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ giữa hai nguyên thủ đã xác định các nguyên tắc, nội dung và phương hướng hợp tác giữa hai bên từ chính trị và ngoại giao, kinh tế-thương mại, khoa học-công nghệ, giáo dục, môi trường đến quốc phòng-an ninh, bảo vệ và thúc đẩy QCN... Sự kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 7-2015) và Tổng thống Hoa Kỳ Ô-ba-ma (B.Obama) thăm Việt Nam (tháng 5-2016) tái khẳng định những cam kết trên, đồng thời khẳng định các nguyên tắc trong quan hệ giữa hai quốc gia; đó là: “Tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau” [4].
Mới đây (ngày 19-5-2017), tại cuộc Hội thảo “Viễn cảnh Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2017 và những năm tiếp theo” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) và Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu và ghi nhận sự đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Hoa Kỳ. Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh: “Hiện đang có nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư, kinh doanh thành công ở Việt Nam, trong đó có các tập đoàn của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ xếp thứ 8 trong các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Quan hệ thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ không ngừng tăng trưởng, từ 15 tỷ USD năm 2008 tăng lên 52 tỷ USD năm 2016. Năm 2016, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam đạt hơn 10 tỷ USD, tăng 43% so với năm 2015. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn ExxonMobil đã ký Thỏa thuận khung phát triển dự án và Thỏa thuận khung hợp đồng bán khí Cá Voi Xanh với tổng giá trị khoảng 10 tỷ USD, dự kiến góp phần đưa Hoa Kỳ trở thành một trong những nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam” [5].
Vì vậy có thể khẳng định, việc bà J.Nguyễn viết cái gọi là “thư”, “kiến nghị” với Tổng thống Hoa Kỳ gây áp lực với Việt Nam về thể chế chính trị và pháp luật chỉ là chuyện hoang tưởng, làm tổn hại đến tình cảm, lợi ích của nhân dân hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ.
VỌNG ĐỨC
[1] Xem kênh YouTube…
[2] “Gần 240 nghìn tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020”, DNVN 13:45:10, ngày 12-11-2015.
[3] Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966,  Thuvienphapluat.vn.
[4] “Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam-Hoa Kỳ: Làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác lâu dài”, Dân trí, ngày 8-7-2015 (08:26).
[5] Chủ tịch nước Trần Đại Quang: “Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển thực chất, toàn diện”, vietnamnet.vn, ngày 19-5-2017 (16:00).
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/tieng-noi-lac-long-lam-ton-thuong-den-tinh-cam-va-loi-ich-cua-nhan-dan-viet-nam-hoa-ky-507978




Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Một số tấm hình quý về cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2015), chúng ta cùng nhìn lại một vài bức ảnh lịch sử của Bác - người đã dành trọn cuộc đời vì nước vì dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng Mác - Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Hồ Chủ tịch làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951.
Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị.
Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2015), chúng ta cùng nhìn lại một vài bức ảnh lịch sử của Bác - người đã dành trọn cuộc đời vì nước vì dân.
Tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp) tháng 12 năm 1920, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Bác trong phòng làm việc của Người ở Phủ Chủ tịch năm 1946.

Sau đó, Người trở lại Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Bác Hồ cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong một căn cứ ở chiến khu Việt Bắc.
Hình ảnh Bác thăm một xưởng công binh tại căn cứ Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Là người sáng lập và lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã theo dõi mặt trận suốt thời gian chiến dịch Biên giới năm 1950.

Bác Hồ phát động Tết trồng cây


Bác Hồ đọc diễn văn tại sân bay, cảm ơn sự tiếp đón nồng hậu và tình cảm của người Ba Lan dành cho Người.

Bác Hồ đọc diễn văn tại sân bay, cảm ơn sự tiếp đón nồng hậu và tình cảm của người Ba Lan dành cho Người.


Hồ Chủ tịch cầm nhịp hát bài “Đoàn kết”.

Bác cũng rất thân thiết với những người lính - Hình ảnh Bác cười vui vẻ với những người lính thủy Nga mùa hè năm 1967
Theo: giadinhvn.vn
trích nguồn từ: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010049/0/19416/Mot_so_tam_hinh_quy_ve_cuoc_doi_cach_mang_cua_Chu_tich_Ho_Chi_Minh

Tư duy hài hoa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Phong cách tư duy Hồ Chí Minh gồm nhiều nội dung, trong đó phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình là nét đặc sắc về phong cách tư duy của Người. Phong cách tư duy đặc sắc này có ý nghĩa chỉ đạo hiện thực to lớn đối với các cấp lãnh đạo và đối với mỗi cá nhân chúng ta trong giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống hôm nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với anh hùng và chiến sĩ thi đua nông nghiệp, năm 1959.


Trước hết, sự thể hiện rõ nhất của phong cách tư duy này ở Bác Hồ là người luôn biết xuất phát từ cái chung, nhân loại, từ những chân lý phổ biến để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn. Người đã từng viết: "Tuy phong tục mỗi dân một khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự giữ"1.
Trong công tác đối ngoại, để đàm phán, vận động thuyết phục đối phương đồng thuận, Bác Hồ thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc về tính đồng nhất của nguyên lý. Điều này được thể hiện ở nhiều bài nói, bài viết của Người, đặc biệt là trong thư gửi những người bạn Pháp ở Đông Dương năm 1946. Bằng lập luận chặt chẽ, Người đã phân tích một cách sâu sắc cho những người bạn Pháp thấy rõ lòng yêu nước, yêu độc lập tự do của người Pháp và người Việt đều giống nhau. Do đó, các bạn người Pháp ủng hộ lý tưởng độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Bởi vì, đó là lý tưởng của cả người việt và người Pháp. Về vấn đề hệ trọng này, Người đã viết: "Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do... Chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi"2.
Với phong cách tư duy này, Bác Hồ luôn gắn kết nhuần nhuyễn, biện chứng giữa lý tưởng cách mạng với đạo đức nhân văn. Điều này được thể hiện rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 20-12-1946) của Người. Bản thân Lời kêu gọi có sức mạnh giục giã như lời hịch của núi sông, thôi thúc mọi người cầm vũ khí, đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhưng lại được viết bằng những lời lẽ rất hòa bình, nhân danh chính nghĩa mà chiến đấu, không hề có một chữ nào nói đến hận thù và chém giết.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Người đã nhiều lần kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, anh dũng chiến đấu, kiên quyết đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Song trong các lời kêu gọi ấy, Người luôn đề cao tình đoàn kết, lòng biết ơn và sự kính trọng về sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ Pháp và nhân dân tiến bộ Mỹ. Trong nhiều bài nói, bài viết, Người đã chân thành cám ơn hàng vạn thanh niên, sinh viên, hàng ngàn nhà khoa học, văn nghệ sĩ Mỹ đã rầm rộ biểu tình chống chiến tranh xâm lược Việt Nam của Chính phủ Mỹ. Người nhiệt liệt ca ngợi những tấm gương anh dũng hy sinh vì hòa bình của nhân dân Mỹ như cụ bà Henga Hécdơ và các chiến sĩ hòa bình Noman Morixơn, Rôgiơ Lapotơ, Xilin Gian Caoxki. Đặc biệt, Người đã ví sự đoàn kết đấu tranh của nhân dân hai nước Việt - Mỹ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam của bè lũ hiếu chiến Mỹ như hai mũi giáp công. Người khẳng định: "Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhất định sẽ thắng"3.
Với phong cách tư duy có lý có tình, Bác Hồ đã xử lý đúng đắn, hài hòa từ những sự việc trọng đại của đất nước đến những vấn đề cụ thể đối với cuộc sống của mỗi con người. Chính với phong cách tư duy này, Người đã thức trắng trọn một đêm, để đi đến kết luận đúng đắn đối với vụ án tử hình nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu (ngày 5-9-1950). Sự quyết định thấu lý đạt tình đối với vụ án lịch sử này của Người, đã được toàn dân, toàn quân rất đồng tình ủng hộ.
Hiện nay, đất nước ta đã bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH nhằm sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những yêu cầu nhiệm vụ mới, những thực tiễn mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó học tập và làm theo phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Bác Hồ là nội dung rất quan trọng. Để học tập và làm theo phong cách tư duy đặc sắc này của Người, chúng ta phải tiến hành nhiều nội dung, biện pháp, trong đó, trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, vận dụng sáng tạo phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong hoạch định các chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận, phương pháp luận đặc biệt quan trọng để Đảng, Nhà nước ta đề ra các đường lối, chính sách, nhất là trong việc hoạch định các chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng lý luận mà còn là nội dung quan trọng để vận dụng vào hoạch định các chiến lược phát triển một cách hài hòa, đúng đắn, sáng tạo. Vận dụng phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Bác Hồ trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, chúng ta phải xác định sao cho nền kinh tế luôn phát triển hài hòa, bền vững; phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội; kiên quyết tránh kiểu phát triển kinh tế bằng mọi giá.
Quán triệt và vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh, trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chúng ta còn phải biết gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế, xây dựng đất nước với chiến lược bảo vệ Tổ quốc; phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Trong xây dựng các giải pháp, bước đi chiến lược, chúng ta phải xác định cho toàn dân, toàn quân thấy rõ trách nhiệm là, luôn nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vận dụng sáng tạo phong cách tư duy Hồ Chí Minh, nhất là phong cách tư duy uyển chuyển, có lý có tình, trong hoạch định chiến lược đối ngoại, chúng ta phải xác định rõ mục tiêu bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đặc biệt, trong xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược đối ngoại, hội nhập quốc tế, chúng ta phải luôn nắm vững và thực hiện tốt phương châm ''vừa hợp tác, vừa đấu tranh". Đây là phương châm thể hiện sinh động phong cách tư duy uyển chuyển của Bác Hồ. Phương châm này không chỉ thực hiện trong lĩnh vực đối ngoại, mà còn phải được thực hiện tốt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.
Hai là, quán triệt và vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các địa phương.
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ là cơ sở lý luận, phương pháp luận, mà còn có vai trò to lớn trong chỉ đạo phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các địa phương. Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Bác Hồ, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các địa phương phải chú ý đảm bảo sao cho địa phương mình phát triển hài hòa, bền vững, toàn diện; phát triển kinh tế phải gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng địa bàn trong sạch, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh. Đặc biệt, khi tổ chức thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì, các địa phương đều phải bảo đảm hài hòa các lợi ích, nhất là lợi ích giữa Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp với người dân. Trong những năm vừa qua, liên tục có hàng ngàn đơn khiếu kiện về đất đai ở các địa phương, gây bức xúc trong xã hội. Để dẫn đến tình trạng khiếu kiện này là do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là các địa phương chưa giải quyết được hài hòa giữa các lợi ích, nhất là lợi ích giữa tập thể địa phương với lợi ích của từng hộ gia đình, từng cá nhân cụ thể.
Quán triệt và vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các địa phương còn cần phải tiến hành có lý có tình, có trước có sau, phải luôn biết gắn kết giữa kỷ cương pháp luật với đạo đức nhân văn truyền thống. Thực tế trong những năm qua ở các địa phương đã chứng tỏ rằng, những nhiệm vụ mà tổ chức thực hiện thấu lý đạt tình thì luôn đạt hiệu quả cao. Ví dụ như, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, các địa phương như huyện Đan Phượng, Đông Anh (Hà Nội), huyện Hoa Lư (Ninh Bình); huyện Đồng Triều (Quảng Ninh), huyện Xuân Lộc, Thống Nhất (Đồng Nai), huyện Củ Chi, Hóc Môn (thành phố Hồ Chí Minh)… do có quy hoạch, kế hoạch xây dựng hài hòa, có biện pháp tổ chức thực hiện hợp lý hợp tình, nên sớm đạt chuẩn nông thôn mới, tạo được bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay, đời sống của người nông dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số địa phương, cơ sở do mắc bệnh thành tích, chạy đua xây dựng nông thôn mới bằng mọi giá, nên cho dù đạt chuẩn nông thôn mới, nhưng nợ đọng nhiều. Tính đến nay, gần 2.000 xã trên địa bàn cả nước đã nợ đọng xây dựng nông thôn mới lên tới trên 15.000 tỷ đồng. Những tồn tại thiếu sót trên, đặt ra cho các địa phương phải quán triệt sâu sắc hơn nữa phong cách tư duy Hồ Chí Minh, sáng tạo tìm ra các biện pháp hợp lý hợp tình để từng bước khắc phục.
Ba là, quán triệt và vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong xử lý các mối quan hệ của mỗi con người đối với đời sống hiện thực.
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh có vai trò chỉ đạo rất to lớn, rất thiết thực đối với mỗi con người trong xử lý các mối quan hệ của đời sống hiện thực. Quán triệt và vận dụng sáng tạo phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển có lý có tình của Bác Hồ, trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân phải có tư duy sáng suốt để xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng; giữa cá nhân với gia đình và xã hội; nhất là các mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức; giữa cá nhân với cơ quan, đơn vị, địa phương nơi mà mình công tác.
Quán triệt và vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân còn phải có tư duy khoa học, tư duy biện chứng để xử lý hài hòa các mối quan hệ của đời sống cá nhân, như mối quan hệ giữa làm việc với nghỉ ngơi; giữa học tập và công tác; giữa rèn luyện phẩm chất với bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức và năng lực. Đặc biệt, mỗi con người còn phải biết xử lý đúng đắn, hài hòa các mối quan hệ có tính chất vĩ mô, như mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân, nhất là nghĩa vụ đối với Tổ quốc.
Trong tình hình mới hiện nay, việc đẩy mạnh học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo phong cách tư duy của Người vào giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn mới là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết đối với các cấp lãnh đạo, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

----------------
1, 2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 4, tr.397, 75.
3) Sách đã dẫn, tập 11, tr.524.
PGS, TS. Hà Huy Thông
http://www.xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2017/10423/Tu-duy-hai-hoa-uyen-chuyen-co-ly-co-tinh-cua-Chu.aspx

Vận dụng phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII




Phong cách Hồ Chí Minh và công tác xây dựng đảng có mối liên hệ, gắn kết chặt chẽ với nhau. Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là chúng ta đang thực hiện công tác xây dựng đảng thiết thực nhất, khoa học nhất.
Nếu phong cách Hồ Chí Minh là một chỉnh thể nhất quán có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động; là giá trị cốt lõi về tính nhân văn trong tư tưởng, đạo đức của Người, thì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chứa đựng sâu sắc những chuẩn mực giá trị về đạo đức, văn minh của một Đảng cầm quyền; trở thành những nguyên tắc trong mỗi hành động, lời nói, cử chỉ, việc làm và sinh hoạt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Từ đó, giúp cho cán bộ, đảng viên ngày càng có phẩm chất cách mạng, bản lĩnh chính trị, tư duy khoa học, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Vận dụng phong cách Hồ Chí Minh trong công tác cán bộ nói chung và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng là vận dụng những giá trị cốt lõi, tính nhân văn được kết tinh từ những đặc trưng tiêu biểu Hồ Chí Minh vào cuộc sống của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức, cơ sở đảng. Điều đó, trái hẳn với việc đòi hỏi phải làm theo như kiểu rập khuôn máy móc; càng không phải là cách học hình thức, qua loa, mà là đòi hỏi sự gương mẫu rất cao độ, rất sáng tạo và rất cầu thị của mỗi cán bộ, đảng viên; trở thành yêu cầu cấp thiết trong đời sống chính trị - xã hội hiện nay của Đảng ta và nhân dân ta.
Đại hội lần thứ XII của Đảng khi đặt yêu cầu tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” đã nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu”. Theo đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cũng đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị”.
Như vậy, chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng, đạo đức nói chung và phong cách Hồ Chí Minh nói riêng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xét về nội dung của phong cách Hồ Chí Minh thì không nằm ngoài những phẩm chất, tiêu chí trong công tác xây dựng Đảng hiện nay mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đề ra.
Những điểm nổi bật trong phong cách của Hồ Chí Minh được thể hiện trên các bình diện lớn là: 1) Phong cách về tư duy, trước hết là tư duy về phép biện chứng duy vật, xuất phát từ thực tiễn để trở lại biến đổi thực tiễn với những đặc trưng, như phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại; phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo; phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình trong mọi hoạt động. 2) Phong cách làm việc, được thể hiện trước hết ở phong cách lãnh đạo; làm việc khoa học và luôn đổi mới, sáng tạo. 3) Phong cách diễn đạt, thể hiện ở cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực; diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, trong sáng có lượng thông tin cao; diễn đạt sinh động, gần gũi với cách nghĩ của quần chúng, gắn với những hình ảnh, sự ví von, so sánh cụ thể; diễn đạt luôn luôn biến hóa, nhất quán mà đa dạng. 4) Phong cách ứng xử, thể hiện ở sự khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp; chân tình, nồng hậu, tự nhiên; linh hoạt, chủ động, biến hóa. 5) Phong cách sống, thể hiện ở sự cần, kiệm, liêm, chính; sống hài hòa, kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa Đông - Tây; đồng thời, tôn trọng quy luật tự nhiên, gắn bó với thiên nhiên.
Những nội dung căn bản ấy đã hợp thành phong cách độc đáo về tư tưởng, đạo đức của Người, trở thành tài sản tinh thần vô giá của Đảng và của nhân dân ta.
Đối chiếu với nội dung công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, nhất là với 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, cho thấy không một biểu hiện nào không nằm trong những cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Và cũng không một biểu hiện nào mà Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhắc nhở cán bộ, đảng viên và Đảng ta, nhất là đối với những vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh trong nội bộ Đảng, chính quyền và trong xã hội.
Ở những thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh không dùng trực tiếp các khái niệm “suy thoái” tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhưng Người đã đề cập đến rất nhiều căn bệnh khác nhau. Có thể nói những căn bệnh đó đã được thể hiện trong cảnh báo từ rất sớm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh qua tác phẩm “Đường cách mệnh” được viết trong thời kỳ vận động thành lập Đảng từ những năm 1925 - 1927. Hồ Chí Minh đặt ra “Tư cách người cách mệnh”: 1) Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công, vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật; 2) Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người; 3) Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể. Những chỉ dạy đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Và, điều đặc biệt là chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện nó trong mỗi hành động, mỗi việc làm cho đến phút cuối cùng của cuộc đời. Người trở thành hiện thân của “tư cách người cách mệnh” và là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo để làm người cách mạng và người dân tốt hơn. Phong cách nói đi đôi với làm trở thành một yêu cầu, một phương châm lớn và Người đã làm điều đó một cách cần mẫn, tinh tế, sáng tạo và trọn vẹn.
Để vận dụng phong cách Hồ Chí Minh vào thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, cần thực hiện một số điểm sau:
Một là, không ngừng học tập, để nhận thức sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và những giá trị to lớn của phong cách Hồ Chí Minh, làm cho phong cách của Người thật sự thấm sâu vào công tác cán bộ, trở thành nền tảng tinh thần để mọi cán bộ, đảng viên vận dụng sáng tạo vào công tác được giao. Mọi cán bộ, đảng viên phải thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc học tập và làm theo phong cách của Người, gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong bối cảnh hiện nay.
Hai là, bám sát nội dung phong cách Hồ Chí Minh, bám sát những giá trị cốt lõi trong phong cách của Người được thể hiện sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hoá kỳ diệu trong hoạt động hằng ngày để vận dụng vào đời sống, công tác và ứng xử xã hội. Đó là: Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; phong cách ứng xử văn hoá, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương... Từ đó, cụ thể hóa và xác định những yêu cầu cơ bản về phong cách làm việc của từng loại công việc, từng đối tượng cán bộ cho phù hợp, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc.
Ba là, từ nội dung phong cách Hồ Chí Minh, soi rọi vào những việc làm hiện nay của mỗi cán bộ, đảng viên; soi rọi vào những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nhận diện, vừa để “sửa mình”, “sửa đổi lối làm việc”, chống lại các quan điểm sai trái, thù địch nhằm hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần xóa bỏ tư tưởng “thần thánh hóa”; hoặc cho rằng phong cách làm việc của Hồ Chí Minh là phong cách của một “bậc đại trí, đại nhân, đại dũng”, của một "nhà chính trị chuyên nghiệp"; hoặc sự giản dị, thanh bạch của Hồ Chí Minh là “cuộc sống khổ hạnh theo lối tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật” rất khó học tập, làm theo. Cần phải nhận thức rõ hơn những giá trị lớn lao trong phong cách Hồ Chí Minh là phong cách của một nhà khoa học chân chính, luôn thống nhất giữa tính đảng, tính chính trị với tính khoa học trong mỗi lời nói, việc làm và quan hệ công tác.
Bốn là, đưa việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng và của cấp ủy, phải trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên của chi bộ, gắn với các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn với việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Lấy kết quả vận dụng phong cách Hồ Chí Minh trong công tác làm một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng hằng năm.

TS. BÙI THẾ ĐỨCPhó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ươnghttp://www.xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2017/10368/Van-dung-phong-cach-Ho-Chi-Minh-trong-thuc-hien-Nghi-quyet.aspx

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII)


- Thao trường -
Hiện nay, trên các trang mạng đã và đang xuất hiện những “ý kiến”, “bình luận” về Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của những gương mặt quen thuộc trong Hội thảo “Bàn tròn của BBC”. Có kẻ cho rằng: “Tất cả những chuyện về suy thoái, chuyện về “diễn biến”, rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hay điều gì đó, thì chỉ nhằm “triệt phe phái”, là “tranh nhau ghế”; rằng Hội nghị Trung ương 4 là biểu hiện của sự “bế tắc” giải pháp cho các vấn đề xã hội. Có kẻ thì qua “Thư ngỏ” khẳng định rằng, “tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ, không thể cải tạo, cần phải làm một cuộc cách mạng thay đổi nó về bản chất; tức là phải hủy bỏ cái chế độ sinh ra nó, chế độ độc tài đơn đảng…”.
Có thể khẳng định rằng, tất cả những luận điệu của họ đều nhằm dụng ý xuyên tạc sự thật, phá hoại cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng; đồng thời chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân. Cũng như “lái” nhận thức xã hội về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng ta sang mục tiêu phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Đảng ta đã xem cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lợi ích nhóm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của nhiệm kỳ mới. Với tinh thần thẳng thắn, Đảng đã chỉ ra rằng: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng; “bốn nguy cơ” mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên; tình trạng tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn tồn tại, có mặt còn diễn biến phức tạp hơn trước. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII thêm một lần nữa tái khẳng định quan điểm này ở mức độ cao hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích tính chất nguy hại của sự suy thoái về mặt chính trị: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay, hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
Những thông tin mà “các nhà hoạt động xã hội”, “người yêu nước” tán phát trên thế giới ảo không chỉ nhằm xuyên tạc sự thật, mà còn nhằm gây chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước ta, phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chẳng hạn, khi Chính phủ yêu cầu cơ quan chức năng thanh tra toàn diện một số dự án có dấu hiệu vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, hoặc mờ ám về tài chính gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước…, thì họ cho rằng, những dự án này sở dĩ bị thanh tra, kiểm tra là do có liên quan đến những người này, người khác trong nhiệm kỳ trước.
Thực tế cho thấy, nguyên nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ “có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu… Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm”. Về nguyên nhân khách quan, Tổng Bí thư cho rằng, “Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể…” và “chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và các hình thức khác”.
Cho dù các thế lực thù địch, các “nhà hoạt động xã hội”, hoặc kẻ nhân danh “người yêu nước” có dùng âm mưu thủ đoạn thâm độc đến đâu cũng không thể che đậy được dã tâm của họ. Như đông đảo cán bộ, nhân dân ta xác định, mặc dù xã hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ và sức mạnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện chế độ xã hội và bảo vệ Tổ quốc./.