Thứ Ba, 17 tháng 9, 2019

Nhận rõ các luận điệu sai trái, thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ


Ảnh minh họa
Thời điểm hiện nay, toàn Đảng đang triển khai những nhiệm vụ trọng đại chuẩn bị cho Đại hội XIII và đó cũng là dịp các thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động chống phá cách mạng nước ta mà một trong những trọng điểm của chúng là chống phá về tư tưởng. Tình hình đó đặt ra những trách nhiệm nặng nề đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, trong đó đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch càng trở thành một trong những nhiệm vụ bức thiết. Để thực hiện tốt trọng trách này, vấn đề nhận diện các loại luận điểm sai trái, thù địch là hết sức cần thiết. Sau đây, xin nêu những dạng luận điệu sai trái, thù địch để có những giải pháp xử lý cụ thể và thích hợp.
1 - NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI DO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TÁC ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN
Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi phương thức hoạt động. Mục tiêu nhất quán không thay đổi của chúng là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, "phi chính trị hóa", vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ nhà nước XHCN ở Việt Nam.
Khi Mỹ tiến hành bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố "Mỹ quan hệ với Việt Nam là vì quyền lợi của Mỹ và để chuyển hóa chế độ chính sách ở Việt Nam theo kiểu Đông Âu và Liên Xô cũ". Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Kissinger cho rằng "Những người cộng sản Việt Nam đã thắng trong chiến tranh, nhưng họ sẽ thua trong hòa bình, trước đây cộng sản dùng súng để đuổi người Mỹ ra khỏi Sài Gòn, ngày nay người Mỹ sẽ dùng dollar để đuổi cộng sản ra khỏi Sài Gòn. Chính phủ Hoa Kỳ đã chi mất 1.000 tỷ USD trong chiến tranh Việt Nam, bây giờ họ cũng không thể để cộng sản yên vị trên đất nước Việt Nam được". Âm mưu của Mỹ là sử dụng con đường ngắn nhất lôi kéo Việt Nam theo Mỹ, dùng chính trị để phát triển ảnh hưởng kinh tế, dùng kinh tế để chi phối sự lãnh đạo của Đảng CSVN, dùng quần chúng để làm tăng thêm sự đối lập của quần chúng với chính quyền và với Đảng.
Với ý đồ đó, Mỹ và các thế lực thù địch đã thực hiện một loạt bước như ngoại giao thân thiện, chi phối đầu tư, khoét sâu nội bộ, viện trợ kinh tế, cấp học bổng cho học sinh, nghiên cứu sinh và nhận học sinh, nghiên cứu sinh sang Mỹ và các nước tư bản khác để tiếp cận, từng bước thực hiện âm mưu lũng đoạn nội bộ ta. Chúng ráo riết chống phá bằng mọi thủ đoạn vừa công khai, vừa bí mật, kết hợp bên trong và bên ngoài hòng làm thay đổi quan điểm, lập trường chính trị trong nội dung các văn kiện Đại hội Đảng, hòng làm cho Đảng ta suy yếu về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo nên và thúc đẩy nhanh quá trình tự diễn biến, làm xói mòn và mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng; làm suy yếu hệ thống lãnh đạo bằng cách loan tin bịa đặt có mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo cấp cao... Nhiều nội dung của tư tưởng đa nguyên, xóa bỏ độc quyền lãnh đạo đã được ráo riết tuyên truyền dưới nhiều hình thức để xâm nhập vào xã hội và nội bộ Đảng ta trong thời gian qua. Các đối tượng thù địch nước ngoài tiếp tục gia tăng chống phá, xuyên tạc nội dung nghị quyết, phá hoại quá trình thực hiện nghị quyết. Một số xu hướng mà các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện truyền bá những luận điệu sai trái:
- Tấn công vào nền tảng tư tưởng của chúng ta - chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhà tư tưởng chống cộng, chống CNXH phê phán, đả kích tới tấp vào CN Mác-Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của CNXH. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản như: du nhập CN Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì CN Mác-Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng lý luận Mác-Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường; vì thế các đảng cánh tả và nhiều đảng cộng sản trên thế giới không coi chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng. Và họ đưa ra luận điệu rằng tại sao các nước theo chủ nghĩa Mác-Lênin chưa thể là nước phát triển, còn tất cả các nước phát triển trên thế giới hiện nay đều không tuân theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Phủ định nền tảng tư tưởng: phủ định học thuyết Mác-Lênin, cho là học thuyết Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta, từ đó cho rằng CN Mác-Lênin lỗi thời ở Việt Nam.
Gần đây chúng chuyển sang luận điệu "Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả các cán bộ cấp cao". Đồng thời chúng xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, đưa ra các luận điệu "đấu tranh giai cấp", "tập trung dân chủ" là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển.
- Phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm. Cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử...
- Phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng hình thái kinh tế xã hội chỉ là một lý thuyết về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ CNXH ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu, dự báo trước. Cho rằng, nhà tư bản bóc lột công nhân nào khi hiện nay các nhà máy, công xưởng toàn các rô bốt làm việc. Cho rằng CNXH đặt xã hội lên trên cá nhân chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó.
- Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái qui luật bỏ qua chế độ tư bản vì hiện nay Việt Nam đang xây dựng và phát triển CNTB dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vậy nên, cần giải quyết các vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó, theo chủ nghĩa xã hội dân chủ là tốt nhất. Chúng cho rằng, kinh tế thị trường lại định hướng XHCN sẽ không thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, sẽ bị cô lập trên trường quốc tế. Chúng rêu rao: Đảng CSVN đã chọn con đường sai, không thể có CNXH. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng "CNXH chính là bước quá độ từ CNXH nghèo đói tiến tới CNTB, những ước mơ của CNXH thì chính CNTB đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở CNTB những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. Tóm lại, người ta muốn nói những người Mác xít bàn về CNXH chẳng khác nào bàn về hư vô".
- Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, các thế lực thù địch đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa đảng. Các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng CS chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị", thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. Gần đây chúng đưa ra luận điệu mới rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Điều kiện hiện nay không còn phù hợp nữa để lực lượng khác mới đưa đất nước tiến lên.
Một số người không phủ nhận hoàn toàn tính chất ưu việt của CNXH nhưng lại phê phán Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, cho rằng những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên. Dựa vào một số "cải cách" ở các nước tư bản và nhất là dựa vào các mô hình xã hội - dân chủ Thụy Điển, Phần Lan, họ cho rằng từ CNTB tiến sang CNXH không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị mới.
- Về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân: chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, "lại được đào luyện trong một lôgíc chuyên chế bạo ngược", cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: "... nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là "Người đào huyệt chôn CNTB" xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng CSVN không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Vì thế nhiều cán bộ cao cấp của Đảng chỉ phấn đấu leo cao để tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Với những điều kiện như trên, giai cấp công nhân và Đảng CSVN không thể lãnh đạo, xây dựng được CNXH đích thực ở Việt Nam..." v.v... và v.v...
- Phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH, phê phán triệt để, bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường XHCN, công khai ca ngợi con đường TBCN. Cho rằng "đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn". Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như "con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ TBCN theo định hướng XHCN, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau".
- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng CSVN và bôi nhọ lãnh đạo. Chúng lập luận, cho dù trong quá khứ có làm nhiều thành tích thì đến thời đại mới đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Phản bác quan điểm, cương lĩnh của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch đòi "từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ".
- Chống phá nước ta về vấn đề nhân quyền. Một số nước Phương Tây đưa ra những chiêu bài "nhân quyền cao hơn chủ quyền, nhân quyền không biên giới, vấn đề nhân quyền về bản chất không còn được coi là công việc thuộc nội bộ của một quốc gia". Hơn nữa, họ còn nêu ra rằng cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa để can thiệp "nhân đạo". Ngay cả khi quan hệ Việt – Mỹ đã được nâng cấp thành quan hệ đối tác toàn diện, một số đối tượng trong chính quyền Mỹ vẫn công khai tuyên bố: "Vấn đề nhân quyền vẫn sẽ là trọng tâm của sự bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Sự khác biệt về nhân quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã cản trở mối giao hảo giữa hai nước và sự tiến bộ chậm chạp về nhân quyền đã làm tắc nghẽn sự phát triển của Việt Nam".
Mục tiêu của các thế lực thù địch là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức, tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn định, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ. Ví dụ các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ đại hội, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Xuất hiện nhiều luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm như "Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua”. Theo số liệu thống kê hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá ta. Hàng năm có hơn 3 nghìn tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28 nghìn thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, và gần 11 nghìn ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác. Các đài phát thanh RFI, VOA, BBC liên tục phát những tài liệu, các cuộc phỏng vấn những phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài để cắt xén, thổi phồng, xuyên tạc một số sự kiện ở trong nước đưa lên mạng đang phát tán rộng rãi trong xã hội nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội trước thời điểm Đại hội Đảng.
2 - NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI DO CÁC PHẦN TỬ PHẢN ĐỘNG, THOÁI HÓA,, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, BẤT MÃN GÂY RA
Một số đối tượng lá mặt, lá trái, cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên Internet có nội dung tuyên truyền những quan điểm phản động, cực đoan. Chính số đối tượng ở trong nước, những phần tử bất hảo nói trên đã tham gia cộng tác viết bài, cung cấp thông tin, gửi thư kiến nghị đưa lên mạng gây ảnh hưởng xấu xung quanh việc ta bắt giữ các đối tượng có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Ngoài ra, phải kể đến một số văn nghệ sĩ, nhà báo, các nhà hoạt động chính trị, xã hội người ngoại quốc, ở nước ngoài đã đến Việt Nam do không có những thông tin chính xác, đầy đủ, bị người Việt phản động lưu vong tuyên truyền, lôi kéo cung cấp thông tin bịa đặt chống phá Việt Nam. Trong khi đó, các nguồn sách báo, phim ảnh có nội dung đồi trụy, ca ngợi một chiều, phiến diện về cuộc sống của những nước phát triển TBCN không quản lý được, tác động vào tư tưởng, tâm lý của nhân dân.
Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà chỉ là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị và vật chất. Cố tình nhắm mắt trước lịch sử của dân tộc về quá trình phát triển đi lên CNXH là tất yếu, lợi dụng sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô để phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân các nước đó lựa chọn, và từ đó lên lớp dạy cho nhân dân ta. Họ cho rằng bi kịch Xô viết như lời cáo chung cho Chủ nghĩa Cộng sản, là hệ quả tất yếu cho các nước XHCN còn lại. Một số đối tượng còn kích động nhân dân để gây rối như các vụ bạo loạn ở một vài nơi trong nước. Đồng thời, những đối tượng này còn cho rằng CNXH không có cơ sở kinh tế vì chế độ XHCN ở nước ta đã chấp nhận nền kinh tế thị trường.
Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng XHCN lại viện dẫn cơ sở lý luận, phương pháp luận Mác xít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của CNTB, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới TBCN ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những con rồng, con hổ; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng CNXH, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng CS thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng CNXH chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ.
Chúng xuyên tạc, trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là chế độ tập trung dân chủ, mà hầu hết các Đảng CS trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực. "Đảng là cản trở của nền dân chủ" nên kiến nghị đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng "Đảng chỉ nên lãnh đạo tư tưởng, đạo đức, lối sống và định hướng chung chung", "không lãnh đạo kinh tế, văn hóa, không lãnh đạo lực lượng vũ trang"... đó là công việc của nhà nước. Đây là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang để vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng.
Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các nhóm lợi ích ở cấp dưới. Chúng cũng bịa đặt rằng "điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi". Chúng tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng.
Các đối tượng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng XHCN, như "kinh tế thị trường và CNXH như nước với lửa không thể hòa nhập được". "Kinh tế thị trường là kinh tế TBCN, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt"; thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ Cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là sân sau của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải đất nước.
Xuyên tạc lịch sử, đòi lật án, chúng xuyên tạc "Thành quả cách mạng Tháng Tám là thành quả cay đắng. Chính quyền về tay nhân dân nhanh chóng rơi vào tay Đảng cộng sản", rằng "dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu của dân tộc là do Đảng cộng sản gây ra". Chúng vu cáo "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến, quân đội ta là những người lính đánh thuê của các thế lực hiếu chiến". Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin.Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống CNXH, thúc đẩy sự hình thành xã hội dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng dollar, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước.
Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi chúng cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác-Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch "hạ bệ thần tượng". Gần đây chúng tung lên luận điệu "No Ho" phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác-Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời, nên chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh mà thôi, vì "Chủ nghĩa Hồ Chí Minh" là chủ nghĩa dân tộc, vì dân tộc”. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, là thủ đoạn thâm độc làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh. Trắng trợn hơn, chúng rêu rao tư tưởng Hồ Chí Minh là “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Bây giờ có độc lập tự do rồi thì cần gì tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Hoặc cứ coi Hồ Chí Minh là một vị thánh của dân tộc để thờ, còn tư tưởng của Người thì không cần cho đất nước trong thời cuộc hiện nay.
Họ còn nói chế độ một Đảng là không dân chủ, thậm chí đòi các đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số người cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại… Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn.
Để chứng minh điều này, những người có lập trường cơ hội và thù địch viện dẫn và xuyên tạc nhiều sự thật lịch sử. Lấy hiện tượng làm bản chất, cường điệu một số hiện tượng đơn lẻ, có thực và có nguyên nhân cụ thể, biến nó thành phổ biến, tất yếu và không tránh khỏi của cả hệ thống. Từ tệ tham nhũng mà Đảng đang đấu tranh thì họ suy ra thành đảng tham nhũng. Đối với các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, dưới con mắt của các phần tử cơ hội, thù địch đều cho là có vấn đề, sai lầm, đầy mâu thuẫn, lúng túng và bế tắc.
- Tấn công vào định hướng XHCN trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Họ cho rằng Đảng ta đưa ra định hướng XHCN là thừa, vô nghĩa, do đó chỉ cần đặt vấn đề xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh là đủ, cần gì phải định hướng XHCN, vì theo họ dòng sông tự nó phải chảy ra biển, cần gì phải uốn nắn. Rằng: Việt Nam tiến lên CNXH bỏ qua TBCN là một điều kỳ quặc, trái quy luật, vì thế hãy tạm gác lại mục tiêu CNXH và lùi về với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đúng đắn nhất.
3. Những luận điệu sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém
So với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là một nước nghèo và đang phát triển, sự phát triển kinh tế còn chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế còn chưa cao. Trong lĩnh vực xã hội, còn nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được tiếp tục quan tâm giải quyết. Điều đó đã tác động, gây ảnh hưởng xấu tới tâm trạng xã hội, là cái cớ để một số phần tử đả kích chế độ.
Các thế lực thù địch đã lôi kéo, kích động một bộ phận nhân dân và cả một số cán bộ các dân tộc thiểu số đi theo tiếng gọi của thần thánh hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Họ kích động tư tưởng hẹp hòi, dẫn đến nhận thức sai lệch trong một số vấn đề như: dân tộc thiểu số phải có đức tin riêng, có cuộc sống riêng, người Kinh là những kẻ cướp đất, cướp miếng ăn của họ. Từ cách nhìn sai lệch dễ nảy sinh quan điểm sai trái, những yếu tố tâm lý nghi kỵ, dân tộc hẹp hòi. Do sự nhận thức yếu kém cộng với sự kích động thù địch trong và ngoài nước, một số đồng bào dân tộc đã gây mất trật tự trị an, chống lại và hành hung người thi hành công vụ; một số người còn trốn, đi theo Fulro ra nước ngoài làm tay sai cho chúng.
Đồng bào ở các vùng chiến lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý. Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch thông qua việc truyền đạo trái phép, các tổ chức phi chính phủ đã mị dân bằng những khẩu hiệu có liên quan sát thực đến đời sống của nhân dân như “đói cho ăn, đau cho thuốc, chết cho hòm”… Sự kiện đồng bào Mông ở Mường Nhé vừa qua cũng có sự tác động của các đối tượng phản động. Trong khi đó, một số nơi do bất bình trước những khó khăn, những cách làm sai trái của một số cán bộ nên phản ứng tập thể, gây mất an ninh trật tự ở nông thôn, an ninh đô thị, thậm chí kéo dài những vụ tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công…
Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử văn học Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không được kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo, đài đưa tin, bài thiếu chính xác, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận.
Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những luận điệu này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và suy thoái về tư tưởng chính trị, vô tình thành phần tử cơ hội gấy nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị và trong sạch về tổ chức của Đảng. Các thế lực thù địch rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Những thế hệ sau 1975 đã quên hoặc chưa từng nếm trải những khổ cực trong chiến tranh do đó dễ bị thao túng, lôi kéo. Do ảnh hưởng của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, một số sinh viên hiểu sai và nói sai về đất nước và chế độ.
Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm trí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ thích họp với hoạt động của Đảng khi chưa dành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo chiến tranh, rằng thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo. Họ cho rằng định hướng XHCN là giáo điều, sách vở, xuất phát từ định đề giai cấp chứ không xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Theo họ, phải từ bỏ định hướng XHCN thì mới phù hợp với thực tế đất nước, xu thế với thời đại. Họ cho rằng chúng ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất XHCN bằng mọi giá, nên lực lượng sản xuất ngày càng bị yếu kém, trì trệ, dẫn tới kinh tế tụt hậu.
Một số người cho rằng không nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí quan hệ sản xuất mà lâu nay vẫn làm, như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo họ, cách phân chia đó dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, không có lợi cho việc phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế khác. Thay vào đó, nên phân chia nền kinh tế theo tiêu chí nhỏ, vừa và lớn. Họ cho rằng, chỉ bằng cách xóa bỏ mọi dấu hiệu quan hệ xã hội của sản xuất thì mới có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Có người còn lớn tiếng khuyên chúng ta cứ “nhập khẩu” toàn bộ luật pháp của phương Tây về và làm theo thì đất nước mới phát triển.
 “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên chống phá chúng ta bằng nhiều thủ đoạn trong đó có những luận điệu sai trái, xuyên tạc. Vì vậy, đấu tranh chống luận điệu sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các loại quan điểm sai trái để có những đối sách phù hợp. Yêu cầu chung nhất của việc đấu tranh này chính là làm tốt công tác tư tưởng trong Đảng và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Gần 90 năm qua, Đảng ta luôn khẳng định công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân. Đấu tranh chống các luận điệu sai trái cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn./.
GS, TS. Vũ Văn Hiền - Phó Chủ tịch Hội đồng LLTW

Nguồn: Trang tin điện tử Hội đồng LLTW

Sự thật về đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền Việt Nam

Cuối tháng 8-2019, nhiều trang mạng xã hội, blog hải ngoại cùng sự “hà hơi tiếp sức” của nhiều trang truyền thông của các tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam truyền đi thông tin cái gọi là thông cáo báo chí về “Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền Việt Nam lần 2” được tổ chức vào tháng 4-2020 tại Nhật Bản. Vậy, thực chất đây là tổ chức gì và sự thật đằng sau Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền là gì?
Trần Kiều Ngọc kêu gào ở Úc vào tháng 1/2018 (ảnh góc trên bên trái) và mới đây xuất hiện ở Nhật Bản
NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU PHONG TRÀO GIỚI TRẺ VÌ NHÂN QUYỀN - LUẬT SƯ TRẦN KIỀU NGỌC LÀ AI?
Trần Kiều Ngọc hay Teresa Trần Kiều Ngọc là người gốc Việt, hiện đang sinh sống và hành nghề luật sư tại Tiểu bang Nam Australia. Theo thông tin trên trang Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền, Trần Kiều Ngọc có cha là trưởng toán biệt kích chế độ cũ, sau năm 1975 vượt biên và định cư tại Australia.
Sau khi tốt nghiệp tại đây, Trần Kiều Ngọc về nước và kết hợp với nhiều chức sắc tôn giáo tổ chức các hoạt động xã hội, nhất là những người bị bệnh phong đang điều trị tại các trung tâm, làng phong, cùi ở Việt Nam. Lưu giữ và mang trong mình tâm lý hằn học của gia đình vượt biên để tháo chạy khỏi quê hương, xứ sở; mang trong mình thái độ chống phá với chế độ XHCN, “tế thủy trường lưu” cùng năm tháng về Việt Nam kết nối với một số linh mục dòng Chúa cứu thế đã hình thành tư tưởng chống đối quyết liệt hơn.
Sau này quay trở lại Australia, tháng 5-2016, Trần Kiều Ngọc sáng lập ra phong trào Giới trẻ thế giới vì nhân quyền (có văn phòng đại diện tại Sydney – Australia) và hiện nay là người đứng đầu của phong trào này. Tại Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền lần 1 với chủ đề “Việt Nam con đường nhân bản”, Trần Kiều Ngọc ngông nghênh ra cái gọi là “tuyên cáo” để xuyên tạc, vu cáo thể chế chính trị và tình hình Việt Nam.
Thật trơ tráo và nực cười hết mức, sau khi viết những lời hằn học, cô ta quy kết và kêu gọi giới trẻ: “Còn Cộng sản thì nhân quyền bị mất, đất nước, biển đảo ngày càng bị mất và rơi vào tay của ngoại bang; vì thế chúng tôi đại diện cho các bạn trẻ Việt Nam từ Úc châu, Mỹ châu, Âu châu và Á châu không chấp nhận sự độc tài cộng sản và đòi hỏi cộng sản phải trả lại ngay toàn quyền lãnh đạo”…?
Có thể thấy, với mưu đồ đê hèn, thái độ trơ trẽn, thô thiển từ lời nói đến bài viết của Trần Kiều Ngọc đủ thấy bản chất xấu xa, phản động của Ngọc và những việc làm đen tối của cô ta.
Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền: “Đồng bạc đâm toạc tờ giấy”?
Sáng 7-9-2017, cái gọi là Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền năm 2017 được tổ chức tại Fairmont Resort Blue Mountains – ngoại ô Sydney - Australia. Đại hội này đã tập hợp được các hội đoàn chống cộng, hội người Việt Nam tị nạn, có sự tham gia của các thành viên tích cực chống Nhà nước từ nhiều nơi. Điều buồn cười đó là việc ban tổ chức đã kêu gọi đóng tiền từ 500 đến 2.000 đô-la Úc cho mỗi người tham dự. Ban tổ chức đại hội cũng “tha thiết” kêu gọi các bạn trẻ từ 18-45 tuổi tích cực tham gia.
Các cá nhân tham gia đại hội có 2 giá vé tham dự khác nhau, loại bình thường 1.100 đô-la, loại thứ hai là 1.500 đô-la Úc. Đại hội còn sử dụng chiêu bài “kinh doanh đại hội” khi khuyến mại: 50 người ghi danh đầu tiên được bớt 100 đô-la Úc, kêu gọi các em học sinh đang học lớp 12 và những bạn đang học toàn thời, các tu sĩ tôn giáo và những người có quốc tịch Việt Nam sẽ được giảm 20%, được bớt thêm 100 đô-la Úc nếu ghi danh trước đó hai tháng.
Số tiền được ban tổ chức thu do Trần Kiều Ngọc phối hợp với số nhân vật chống Nhà nước Việt Nam như linh mục Nguyễn Văn Khải, Michael Kirby - Chu Văn Cương, Nancy Nguyễn, Đinh Kim Phúc, Trịnh Hội, Nguyễn Văn Long, một số cựu thẩm phán Australia có quan điểm chống Nhà nước Việt Nam.
Với phương thức như vậy, nhiều người và ngay cả nhiều bà con cộng đồng người Việt hải ngoại đặt ra câu hỏi phải chăng đây là hoạt động núp bóng của các phần tử chống đối tụ tập vu cáo, xuyên tạc tình hình trong nước và tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam?  Nhiều người thẳng thừng vạch mặt, thực chất “Đại hội giới trẻ thế giới vì nhân quyền” cờ dong trống mở là chiêu thức rẻ tiền, bản chất là “đồng bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng thời cố tình “đâm bị thóc, chọc bị gạo” của những kẻ “không biết quay đầu là bờ” mà đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, nhân dân.
VÀ ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CẦN NHẬN DIỆN
Đại hội do phong trào này tổ chức quy tụ những thành viên chống đối tại các quốc gia và tiến hành hội luận về tình hình Việt Nam. Thực chất đây là nơi tập hợp số người chống đối và bàn luận, xuyên tạc về Việt Nam, nhất là xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở nước ta.
Điểm danh qua danh sách tham dự chúng ta có thể thấy nhiều đối tượng đã từng về Việt Nam, bị bắt giữ xử lý; một số đối tượng trong các hội đoàn chống cộng, nhiều đối tượng bị bọn phản động Việt Tân mua chuộc để tiến hành các hoạt động chống phá.
Qua nắm bắt thông tin cho thấy, Đại hội giới trẻ là nơi nuôi dưỡng các thành viên Việt Tân (Tổ chức đã được Bộ Công an xếp vào tổ chức khủng bố) trong và ngoài nước tìm cách chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Chủ trương của phong trào giới trẻ vì nhân quyền là làm sao gieo rắc ý thức, nhận thức sai lệch tình hình thực tiễn Việt Nam trong những người trẻ khắp nơi trên thế giới, từ đó lợi dụng vấn đề nhân quyền để “đấu tranh”, cơ hội chính trị.
Để thu hút sự quan tâm của giới trẻ, sau những mỹ từ chúng đưa ra là “đánh động lên trên những tâm hồn thờ ơ và quy tụ những bạn trẻ Việt Nam còn tha thiết với tiền đồ của dân tộc đến với nhau để cùng chia sẻ, tìm ra con đường nhân bản cho Việt Nam, đồng thời góp một bàn tay trong những dự án giúp cho Việt Nam sớm có được tự do, dân chủ và nhân quyền". Từ đó, chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin trở thành phần tử chống đối, thúc đẩy phong trào chống phá Việt Nam, với cái đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng; thúc đẩy, lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam chệch hướng XHCN.
Với bản chất, âm ưu, phương thức, thủ đoạn của phong trào Giới trẻ thế giới vì nhân quyền như đã phân tích ở trên, người dân, nhất là các bạn trẻ, người Việt ở nước ngoài cần tỉnh táo, không để những phần tử này lôi kéo, lợi dụng./.
Lê Vĩnh Bình - Học viện chính trị CAND

Chấn chỉnh hiện tượng tiêu cực trong hoạt động báo chí


Hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ tạo ra những hệ lụy về mặt xã hội, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của những người làm báo chân chính.

Thời gian qua, việc cơ quan chức năng và cơ quan chủ quản báo chí phải cảnh cáo, thu hồi thẻ nhà báo, khởi tố, bắt giam phóng viên vì hành vi lừa đảo, tống tiền doanh nghiệp, ép ký kết hợp đồng quảng cáo... đã không chỉ dừng lại ở một vài hiện tượng đơn lẻ mà đang trở thành “điểm đen” đáng lo ngại. Và thí dụ gần nhất là đầu tháng 8-2019, hai phóng viên của một tờ báo và một tạp chí trung ương có trụ sở tại Hà Nội đã bị lực lượng chức năng của TP Hà Nội và tỉnh Hà Tĩnh khởi tố, bắt tạm giam vì có hành vi tống tiền. Có thể thấy, sai phạm của một số người làm báo đã và đang tác động tiêu cực tới uy tín, hình ảnh của cộng đồng nghề nghiệp, phần nào khiến bạn đọc có cái nhìn và đánh giá sai lệch về báo chí cũng như đội ngũ người làm báo; đặc biệt, qua các mạng xã hội Facebook, Youtube... ý kiến tiêu cực của một số người làm báo và đánh giá tiêu cực về báo giới đang có nguy cơ lây lan. Bởi trên không gian mạng, thay vì đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, phòng, chống nạn tin giả (fake news), định hướng hoặc trấn an dư luận trước thông tin sai lạc, không thể kiểm chứng... thì một số người làm báo lại bẻ cong ngòi bút, chém gió, phát ngôn tiêu cực, làm nhiễu loạn dư luận, gây khó khăn cho cơ quan chức năng...

Đến hiện tại, khó có thể phủ nhận trên thực tế, vì đã nếm trải tiền lệ xấu diễn ra trước đó, mà tâm lý ngại nhà báo, không muốn tiếp xúc hay dây dưa với phóng viên như đã trở thành cảm xúc thường trực của không ít cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khi phải nghe điện thoại, tiếp nhận giấy giới thiệu, thư điện tử,... từ cơ quan báo chí. Như để đánh đổi, “luật im lặng” sẽ giúp họ không phải đối mặt với chiến dịch “truyền thông đen”, “truyền thông bẩn”. Còn khi một chiến dịch như vậy nhắm vào doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc, hiệu quả thì “chờ được vạ thì má cũng sưng”, doanh nghiệp vẫn phải méo mặt khi thông tin sai lệch liên tục được đăng tải, chia sẻ, bình luận. Đó là chưa nói, không rõ có liên hệ nào không (?), nhưng khi một chiến dịch truyền thông thiếu trong sáng được tổ chức dựa trên phát ngôn thiếu trách nhiệm của một vài cá nhân nhân danh đại diện cho một cơ quan chức năng nào đó thì hậu quả tiêu cực còn tăng lên hơn nhiều. Đó là trường hợp của Cơ sở Kinh doanh và Chế biến thực phẩm Việt (Viet Foods), sau khi bị “dính đòn oan” thì đã thiệt hại cỡ 100 tỷ đồng, sản xuất chỉ đạt 10% công suất thiết kế, công nhân phải nghỉ việc, hàng tồn kho vì không tiêu thụ được, bị trả lại, đối tác viện cớ không thanh toán nợ. Gần hơn là sự kiện liên quan Công ty cổ phần Con Cưng năm 2018, sau khi được minh oan, doanh nghiệp này cũng lâm cảnh “bầm dập” như đánh giá của báo chí. Đáng lo ngại là sau khi sự việc rõ ràng, một số tờ báo lẫn phóng viên viết bài vẫn vô can, dù trước đó họ đã nhân danh chống tiêu cực để công bố bài viết quy chụp, hùa theo dư luận, tiến công doanh nghiệp...

Các chiến dịch “truyền thông đen”, “truyền thông bẩn” đứng sau là một số người làm báo đang diễn biến hết sức phức tạp. Những người này tỏ ra khéo léo trong việc lôi kéo, xúi bẩy đồng nghiệp đứng cùng “chiến tuyến” với họ. Trong đó, phổ biến nhất là kiểu tổ chức chiến dịch tẩy chay doanh nghiệp với động cơ rất thiếu trong sáng, gồm cả hành vi chống lại pháp luật. Ngày 11-8 vừa qua, bài viết trên trang cá nhân của nhà báo B.N.H khiến nhiều bạn đọc phải bất ngờ và đau lòng vì một nhóm tự mệnh danh “báo chí sạch” đã công khai tẩy chay một trang thông tin điện tử sau khi đăng bài viết về Hà Văn Nam - bị cáo trong vụ án gây rối trật tự công cộng tại trạm BOT Phả Lại (Hải Dương). Được biết, những người đứng sau fanpage “báo chí sạch” chủ yếu là cây bút tai tiếng, có người đã từng bị cơ quan báo chí kỷ luật, buộc thôi việc. Trên “báo chí sạch” và facebook cá nhân của số người này, dưới chiêu bài “đấu tranh, chống tiêu cực”, họ thường xuyên đăng tải thông tin chưa xác thực, thiếu kiểm chứng. Họ còn cố gắng huy động một số cây bút biến chất tham gia nhằm gây sức ép lên các phiên tòa, đến việc điều tra của cơ quan chức năng.

Lạm dụng vai trò nghề nghiệp, một số người làm báo còn tự cho phép mình mạt sát, hạ bệ người khác. Một số người còn lợi dụng tranh cãi riêng tư để thực hiện hành vi phá hoại, đe dọa doanh nghiệp. Như cách đây không lâu, từ chuyện lời qua tiếng lại giữa một ca sĩ và một cá nhân khác quanh tấm ảnh trên facebook, phong trào tẩy chay nghệ sĩ này nhanh chóng bùng nổ. Dưới sự dẫn dắt của một số người làm báo, bỗng chốc một mâu thuẫn cá nhân đã trở thành màn “đấu tố”, “đánh hội đồng”. Chiến dịch này lên đến đỉnh điểm khi một nữ “nhà báo tự do” kêu gọi cộng đồng mạng ngưng sử dụng những mặt hàng, dịch vụ của doanh nghiệp nào mời ca sĩ này làm đại diện hình ảnh. Như vậy, “chỉ vì ghét cái thái độ” của ca sĩ mà có người làm báo sẵn sàng đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn. Việc cố tình vùi dập thương hiệu, nhãn hàng chỉ vì lý do rất vớ vẩn “không thích” đã được một số người tự xưng nhà báo thực hiện, khiến dư luận không phải không có lý khi đặt ra nghi ngại rằng phải chăng đó là bước tiếp theo nhằm thực hiện chiêu trò che giấu lợi ích nhóm?

Việc một số người làm báo tung tin giả, làm nhiễu loạn thông tin, đưa ra nhận định gây hoang mang, làm dư luận bức xúc cũng đang là hiện tượng có xu hướng gia tăng, dễ thấy nhất là trên mạng xã hội và các trang tin điện tử có xu hướng “lá cải”. Chạy theo lượng người xem (view) và đánh giá (rating), một số cơ quan báo chí, người làm báo không ngần ngại tung ra bài viết có nội dung và hình thức phản cảm. Ngôn từ dung tục cùng hình ảnh và vi-đê-ô chứa cảnh bạo lực, khiêu dâm trở thành công cụ được những người này khai thác triệt để, nhắm vào số bạn đọc hiếu kỳ, nhẹ dạ, cảm tính. Thông tin xoay quanh nạn nhân các vụ bê bối và vụ án với nhiều giả thuyết, bình luận hàm hồ, thiếu bằng chứng được đăng tải liên tục, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng và lực lượng điều tra trong khi xác minh, truy tìm hung thủ. Gần nhất, cái chết thương tâm của em học sinh lớp một Trường tiểu học Gateway ngay lập tức được những kẻ “khóc thuê” biến thành cơ hội tung ra hàng loạt tin vịt hay thuyết âm mưu... nhằm gây sốc để thu hút người đọc. Một số tờ báo còn không e ngại khi đăng tải clip về sự kiện mà hình ảnh em học sinh không được làm mờ, hay cảnh báo độc giả. Đồng thời, fanpage và nhóm mang tên “tẩy chay Trường học Gateway” và “Tẩy chay Gateway” với sự tham gia của không ít nhà báo cũng nhanh chóng xuất hiện, chủ yếu lượm lặt, đăng tải các bài viết từ đủ mọi nguồn trên mạng. Các thành viên quản lý fanpage, nhóm này còn thường xuyên bịa đặt rằng mình đang bị lực lượng an ninh đe dọa vì họ đã dám thẳng thắn đi tìm sự thật. Tổn thất sinh mạng trong sự vụ ở Trường tiểu học Gateway là điều đau lòng không ai muốn, nhưng khi vụ án vẫn trong quá trình điều tra mà báo chí cố gắng đào bới thông tin, kết luận vội vã, thậm chí cố làm rùm beng là khoét sâu nỗi đau, nếu không nói là bất nhẫn. Tình trạng này khiến nhiều người không khỏi ngao ngán liên tưởng đến sự vô trách nhiệm của một số tờ báo trong trọng án “sát hại nữ sinh giao gà” xảy ra đầu năm 2019.

Cùng với những quy định của pháp luật, sự tăng cường quản lý của các cơ quan chức năng, việc Hội Nhà báo Việt Nam ban hành “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo” và “Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam”, đã góp phần giúp sinh hoạt báo chí có bước chuyển biến nhất định. Nhiều sai phạm đã được xử lý, bài viết kém chất lượng, sai sót đã kịp thời được đính chính. Nhưng dường như việc thi hành kỷ luật và chế tài xử phạt tại một số nơi vẫn chưa nghiêm, chưa thật sự quyết liệt cho nên còn thiếu tính răn đe, chưa ngăn chặn kịp thời được số người làm báo có biểu hiện tha hóa. Một số cơ quan báo chí vẫn còn dung túng cho sai phạm của phóng viên. Một nhà báo đã viết trên Facebook: “khi phóng viên hư hỏng, vì hù dọa, tống tiền doanh nghiệp nhưng không bị xử lý nghiêm minh thì chúng ta phải trả giá rất đắt - đánh mất niềm tin của người đọc và đồng nghiệp”.

Trước bối cảnh tình hình trong nước và thế giới đang chuyển biến ngày càng đa dạng theo chiều hướng nhanh chóng nhưng không kém phần phức tạp, vai trò và trách nhiệm của người làm báo phải được ngày càng nâng cao. Mỗi người làm báo cần có ý thức nghiêm túc về trách nhiệm xã hội của mình, từ đó nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, kiên quyết nói “không” với tiêu cực, phát hiện điều tốt đẹp, biểu dương những tổ chức, cá nhân, địa phương có việc làm tích cực, “ích nước lợi dân”, đấu tranh với hiện tượng tiêu cực, tham gia bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trên không gian mạng... góp phần củng cố niềm tin của xã hội đối với báo chí nước nhà. Đặc biệt, nỗ lực, quyết liệt để triển khai, phối hợp thực hiện thành công Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời tăng cường hiệu quả công tác quản lý báo chí, nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm để xây dựng nền báo chí phát triển đúng hướng và lành mạnh.

Theo Nhân dân

Bảo vệ chủ quyền - kiên quyết, kiên trì và sách lược đúng đắn


Tác phẩm: Quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quê hương. Tác giả: Lê Duy Khanh (Bình Định).
NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÓP MÉO
Họ cho rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội Việt Nam quá nhu nhược, hèn yếu không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Thậm chí họ còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài. Với lãnh đạo Quân đội, chúng xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo cả những phát biểu đúng quan điểm, đường lối đối ngoại quốc phòng của một đồng chí lãnh đạo đi dự lễ kỷ niệm ngày truyền thống của Quân đội Trung Quốc tại đại sứ quán Trung Quốc.
Chúng lu loa Chính phủ Việt Nam “hèn nhát”, “bịt miệng báo chí”, “dâng biển cho giặc”. Có người còn tung tin đồn sai sự thật rằng Nhà nước Việt Nam đã đồng ý giao bãi Tư Chính cho Trung Quốc để nhân đó kêu gọi lật đổ chế độ. Một số người xưng là chuyên gia nghiên cứu biển, đảo thì đòi Chính phủ tạo ra các đồng minh mới để “thoát Trung”. Một số người kêu gọi phải sớm kiện Trung Quốc. Tổ chức khủng bố Việt Tân kêu gọi chủ động nổ súng để gây chiến tranh. Nhiều đối tượng tham gia tổ chức Việt Tân công khai rằng họ muốn có chiến tranh để Mỹ can thiệp, nhân tiện thay đổi chế độ.
Vấn đề biển, đảo cũng bị kẻ xấu lợi dụng, gắn với xuyên tạc công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Chúng bịa đặt xuyên tạc một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta “im lặng” để đổi lấy vị trí trong Đại hội XIII. Có kênh Youtube còn bịa đặt danh sách “ủy viên Bộ Chính trị” “chia đôi bãi Tư Chính cho Trung Quốc”.  Chúng tiếp tục tung ra nhiều tin giả như “vụ Tư Chính là bước đầu để hợp thức hóa Mật ước Thành Đô” để kích động nhân dân bức xúc, xúi giục biểu tình, tẩy chay Trung Quốc...
Đó là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn, đổi trắng thay đen những nỗ lực và quan điểm kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta.
LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA NÓI GÌ?
Từ khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc xâm phạm vùng biển của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta đã 5 lần tuyên bố chính thức khẳng định, đây là vụ việc nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 và luật pháp quốc tế. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng nêu rõ các lực lượng chức năng của Việt Nam tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Việt Nam cũng khẳng định hết sức coi trọng hòa bình, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông và thiện chí giải quyết các bất đồng thông qua các biện pháp hòa bình, luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vì lợi ích của hai nước, nhân dân hai nước và hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Việt Nam kêu gọi các nước có liên quan và cộng đồng quốc tế đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, khu vực và quốc tế.
Không chỉ Người phát ngôn Bộ Ngoại giao lên tiếng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng đã chính thức phát biểu trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 ở Thái Lan ngày 31-7-2019, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định, những hành động của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo UNCLOS 1982. Nghiêm trọng hơn, đây là diễn biến tiếp theo các hoạt động cải tạo bồi đắp quy mô lớn và quân sự hoá các cấu trúc tranh chấp trên biển. Các diễn biến này làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và ảnh hưởng trực tiếp tới hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, vi phạm Tuyên bố 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và đi ngược lại cam kết duy trì môi trường thuận lợi cho đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).
Ngày 5-8-2019, tại cuộc tiếp bà Federica Mogherini, Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu, đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu (EU) về chính sách Đối ngoại và An ninh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã đề cập vấn đề Biển Đông, khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam là đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 trong giải quyết các tranh chấp, bất đồng... Quan điểm này được Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu đồng tình và khẳng định, nằm trên tuyến đường hàng hải quan trọng, Biển Đông cũng là lợi ích kinh tế, lợi ích về an ninh của nhiều quốc gia, trong đó có Liên minh châu Âu. Đây là vấn đề của toàn cầu, được cộng đồng quốc tế cùng quan tâm.
Ngày 23-8-2019, trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Australia Scott Morrison thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu: “Chúng tôi quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây trên Biển Đông; nhất trí cùng hợp tác duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, phấn đấu đạt được COC hiệu quả phù hợp với luật pháp quốc tế”.
Ngày 26-8-2019, phát biểu tại kỳ họp Ðại hội đồng Liên nghị viện ASEAN lần thứ 40 (AIPA 40) tổ chức ở Thái Lan, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân một lần nữa nhắc lại những diễn biến phức tạp ở khu vực trong đó có tình hình Biển Đông, nhắc lại việc tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 vừa qua, các nước đã lên tiếng thẳng thắn về những hoạt động đơn phương trên Biển Đông, vi phạm chủ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, tác động tiêu cực tới hòa bình, an ninh và ổn định, tự do, an toàn hàng hải, hàng không ở khu vực.
Sáng 27-8-2019, hội đàm với Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp tục nêu quan điểm của Việt Nam về vấn đề trên. Hai Thủ tướng chia sẻ quan ngại sâu sắc về những diễn biến gần đây ở Biển Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không quân sự hóa, thực hiện đầy đủ và nghiêm túc DOC và phấn đấu sớm đạt được COC thực chất, hiệu quả và ràng buộc pháp lý.
Chiều cùng ngày, tại cuộc làm việc với Tổng Thư ký ASEAN Lim Jock Hoi, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị ASEAN tiếp tục lên tiếng, bày tỏ quan điểm thẳng thắn ủng hộ duy trì hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng, bảo đảm tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông với tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế.
Trong thời gian sang Trung Quốc dự Hội thảo lý luận lần thứ 15 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 7-2019, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã có cuộc hội kiến với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Lạc Tế; hội đàm với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Hoàng Khôn Minh. Về vấn đề trên biển, đồng chí Võ Văn Thưởng thẳng thắn đề nghị hai bên cần thực hiện tốt những nhận thức chung đã đạt được của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, trong đó có Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc; giải quyết các bất đồng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS 1982; đề nghị Trung Quốc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên biển theo luật pháp quốc tế, không để ảnh hưởng tiêu cực đến đà phát triển quan hệ hai nước.
Phát biểu trong một hội nghị mới đây, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, những thay đổi rõ rệt về Biển Đông và các vấn đề pháp lý cho thấy sự cần thiết trong việc thấu hiểu và cân nhắc trong từng bước đi. Việc nắm bắt tốt các thay đổi và hiện trạng sẽ là cơ sở để Việt Nam điều chỉnh chính sách cụ thể nhằm đảm bảo hai mục tiêu song song: bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tạo môi trường hòa bình để phát triển. Theo đồng chí Lê Hoài Trung, Việt Nam đã rất nỗ lực trong công tác ngoại giao thời gian qua. Việt Nam đến nay đã phản đối mạnh mẽ, yêu cầu Trung Quốc rút tàu, song cũng bình tĩnh và thận trọng trong các bước đi nhằm đảm bảo đường lối xử lý tranh chấp trong hòa bình và có tính xây dựng. Một trong những nỗ lực quan trọng để đấu tranh hòa bình là tranh thủ sự ủng hộ giữa các nước thông qua việc nêu bật lợi ích chung khi có một môi trường hòa bình ở Biển Đông.
DƯ LUẬN QUỐC TẾ ĐỒNG TÌNH, ỦNG HỘ
Với hàng loạt những hành động và phát ngôn trên, không thể nói lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta thờ ơ với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo hay “hèn nhát” như những thông tin xuyên tạc. Tính tới nay, cơ bản dư luận quốc tế đều ủng hộ Việt Nam. Nhiều đối tác quốc tế lớn đã lên tiếng về tình hình bất ổn ở Biển Đông, yêu cầu các bên tôn trọng UNCLOS 1982.
Trên cơ sở phát biểu của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, các nước ghi nhận ý kiến của Việt Nam và lần đầu tiên Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN đã ra thông cáo chung nêu quan ngại về việc cải tạo đất và những sự cố nghiêm trọng trên Biển Đông. Thông cáo chung của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại đề mục “Các vấn đề khu vực và quốc tế” nhấn mạnh quan điểm về Biển Đông ở hai mục 75 và 76, khẳng định tầm quan trọng của việc thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC; nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho các cuộc đàm phán COC, do đó hoan nghênh các biện pháp thiết thực có thể làm giảm căng thẳng và nguy cơ xảy ra sự cố, hiểu lầm và tính sai; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện xây dựng lòng tin và khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Việc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 ra tuyên bố chung sau nhiều diễn đàn không ra được tuyên bố chung đánh dấu một bước tiến mới về lập trường của ASEAN về tình hình Biển Đông.
Mỹ đã nhanh chóng lên tiếng mạnh mẽ trong thông cáo phát đi ngày 20-7-2019 của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Morgan Ortagus cho biết Washington rất lo ngại về các báo cáo Trung Quốc gây cản trở các hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí ở khu vực Biển Đông, đặc biệt là của Việt Nam: “Các hoạt động khiêu khích nhiều lần của Trung Quốc nhắm vào hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí xa bờ của các nước liên quan đã đe dọa an ninh năng lượng khu vực và phá hoại thị trường năng lượng tự do mở rộng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc Trung Quốc cố tình tạo sức ép, buộc các quốc gia ASEAN nhượng bộ trong đàm phán thông qua COC nhằm ngăn chặn các nước này hợp tác khai thác dầu khí trong khu vực với bên thứ ba. Hành động này bộc lộ rõ ý định độc chiếm các nguồn tài nguyên ở Biển Đông của Trung Quốc.
Ngày 22-8-2019, Bộ Ngoại giao Mỹ đã lần thứ hai lên tiếng chỉ trích Trung Quốc về hành xử ở Biển Đông với lời lẽ mạnh mẽ hơn: “Mỹ mạnh mẽ phản đối bất cứ nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm đe dọa hay cưỡng chế các quốc gia đối tác phải rút lại sự hợp tác với các công ty không phải của Trung Quốc hay quấy nhiễu những hoạt động hợp tác của họ”.
Bộ Quốc phòng Mỹ hôm 26-8-2019 đã lên án Trung Quốc có hành động quấy rối các hoạt động khai thác tài nguyên dầu khí của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình: “Trung Quốc đã nối lại các hoạt động quấy nhiễu, đe dọa các hoạt động khai thác dầu khí lâu đời của Việt Nam trên Biển Đông. Động thái này của Bắc Kinh đã đi ngược lại cam kết của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa trong bài phát biểu của ông tại Singapore đầu năm nay rằng Trung Quốc sẽ kiên định con đường phát triển hòa bình…”.
Ngày 27-8-2019, Ngoại trưởng Nhật Bản Taro Kono khẳng định: “Biển Đông là tuyến đường biển quan trọng đối với Nhật Bản và nhiều quốc gia khác và có liên quan trực tiếp tới sự ổn định và hòa bình của khu vực. Cộng đồng quốc tế, trong đó có Nhật Bản, quan tâm sâu sắc tới tình hình trên Biển Đông. Nhật Bản phản đối bất cứ hành động của nước nào làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Cộng đồng quốc tế cần phản đối bất cứ hành động đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng và bất cứ hành động nghiêm trọng mang tính cưỡng ép của bất cứ quốc gia nào”.
Các nước khác như Ấn Độ, Australia, Anh, Nga… bằng những hình thức và mức độ khác nhau đều đã bày tỏ sự quan ngại trước những diễn biến phức tạp, căng thẳng đang diễn ra ở Biển Đông và đều tỏ thái độ ủng hộ lập trường và cách ứng xử của Việt Nam trong thời gian qua.
Trong thông cáo phát đi ngày 28-8-2019, Người phát ngôn của Liên minh châu Âu (EU) nêu rõ quan điểm: “Những hành động đơn phương trong các tuần qua trên Biển Đông đã gây leo thang căng thẳng và làm xấu đi môi trường an ninh hàng hải, cho thấy nguy cơ nghiêm trọng với sự phát triển kinh tế hòa bình trong khu vực. EU sẽ tiếp tục ủng hộ hoàn toàn tiến trình giải quyết do ASEAN dẫn dắt trong khu vực, để thúc đẩy hơn nữa trật tự khu vực và thế giới dựa trên luật pháp, nhằm củng cố sự hợp tác đa phương, cũng như hợp tác gần gũi hơn với các bên thứ ba”.
"DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN" TRONG SÁCH LƯỢC
Đảng, Nhà nước ta đã và đang triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã xây dựng Chiến lược Quốc phòng với mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, tự chủ, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia; không để đất nước bị bất ngờ về chiến lược; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không để xảy ra “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn có hiệu quả các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo vệ nền hòa bình bền vững của đất nước; ngăn ngừa xung đột vũ trang, không để xảy ra chiến tranh; đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái, quy mô chiến tranh xâm lược.
Chúng ta cũng xác định phương châm thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến trong mọi hoàn cảnh. Kiên định đường lối, mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình, thực hiện bằng sách lược mềm dẻo, phương thức linh hoạt, đối phó có hiệu quả với sự biến động phức tạp của tình hình; sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng; với mọi âm mưu, thủ đoạn, tình huống của các thế lực thù địch, phản động, nhằm đạt mục tiêu cao nhất.
Với những chủ trương, chiến lược và sách lược cùng các hành động kiên quyết, kiên trì, khôn khéo được sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ luôn chủ động, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
Bảo vệ vững chắc độc lập, tự chủ, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia; không để đất nước bị bất ngờ về chiến lược; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không để xảy ra “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn có hiệu quả các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo vệ nền hòa bình bền vững của đất nước; ngăn ngừa xung đột vũ trang, không để xảy ra chiến tranh; đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái, quy mô chiến tranh xâm lược.
Đại tá Nguyễn Văn Minh

Cần nhìn nhận công tâm về sự nghiệp đổi mới giáo dục


(Ảnh minh họa)
THÔNG TIN PHIẾN DIỆN, SAI LỆCH VỀ GIÁO DỤC CŨNG LÀ BIỂU HIỆN SUY THOÁI
Ít có lĩnh vực nào được xã hội, người dân quan tâm như lĩnh vực giáo dục. Cũng ít có hoạt động nào mà lại liên quan mật thiết đến mọi người, mọi nhà như hoạt động giáo dục. Nói đến giáo dục là nói đến triển vọng và trăn trở của một đời người, tương lai và nỗi lo của cả gia đình, tiền đồ và thử thách của toàn dân tộc.
Triển vọng, tương lai, tiền đồ lớn hay nhỏ; trăn trở, nỗi lo, thử thách nhiều hay ít của nền giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố tuy vô hình nhưng lại có tác động đến sự ổn định, phát triển của giáo dục, đó chính là niềm tin của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục.
Vậy, đâu là yếu tố then chốt để giáo dục tạo dựng, thu hút, lan tỏa niềm tin trong xã hội? Chắc chắn đó chính là những chuyển biến đồng bộ, những kết quả tiến bộ, những thành tích rõ nét trong lĩnh vực giáo dục từ bậc mầm non đến đại học; từ công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành đến các hoạt động dạy, học, kiểm tra, thi, đánh giá kết quả, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo.
Một thành quả đáng ghi nhận là trong hai năm học gần đây (2017-2018 và 2018-2019), 100% thí sinh Việt Nam dự thi Olympic quốc tế các môn Vật lý, Toán học, Hóa học, Sinh học, Tin học đều đoạt huy chương. Năm học 2018-2019, Việt Nam lần đầu tiên có hai đại học (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) được vào top 1.000 đại học hàng đầu thế giới và 7 đại học được vào danh sách các đại học hàng đầu châu Á. Cả nước hiện có gần 550 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài giữa 85 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và 258 cơ sở giáo dục nước ngoài thuộc 34 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Con số định lượng bao giờ cũng dễ nhìn nhận, nhưng giá trị định tính thì không dễ “cân đong đo đếm”, nên có ý kiến cho rằng, giáo dục Việt Nam vẫn lạc hậu, chưa theo kịp với xu thế phát triển của giáo dục thế giới. Do chỉ nhìn thấy một số hiện tượng tiêu cực xảy ra trong thời gian qua, như: Lạm thu, bạo lực học đường, gian lận thi cử… trong giáo dục, nên có ý kiến nhận định ngành giáo dục liên tiếp bị rơi vào trạng thái “khủng hoảng truyền thông” khiến cho giáo dục Việt Nam vẫn ở tình cảnh loay hoay tìm lối thoát (!).
Tiếc thay, cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề như vậy chưa công bằng, thấu đáo. Chưa công bằng ở chỗ là chỉ nhìn một số hiện tượng tiêu cực, bất cập trong hoạt động giáo dục rồi phủ nhận những nỗ lực đổi mới của ngành giáo dục. Chưa thấu đáo ở chỗ là mới nhìn bề mặt mà chưa đánh giá đúng bản chất, chiều sâu vấn đề giáo dục ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ, nhiều phương diện.
Vốn là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, nhạy cảm, trong quá trình triển khai thực hiện đổi mới giáo dục đã xuất hiện nhiều ý kiến phong phú, đa chiều, thậm chí có cả những tranh luận, phản biện đến mức “nảy lửa”. Điều đáng nói ở đây là cái tâm, cái tầm của người tham gia ý kiến, phản biện. Nếu người có tâm đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng, giàu tri thức và am hiểu về lĩnh vực, chuyên ngành tham gia tranh luận, góp ý trên tinh thần thiện chí, xây dựng vì lợi ích chung, thì chắc chắn đó là những “lời nói gói vàng”.
Còn những ai chạy theo bề nổi của dư luận, thích nổi tiếng trong đám đông bằng những phát ngôn trái chiều, chưa tìm hiểu cặn kẽ, thấu đáo vấn đề phản biện rồi vội vàng đưa ra ý kiến, phát biểu theo cảm tính chủ quan, thì dễ làm dư luận hiểu sai lệch bản chất vấn đề, gây nhiễu thông tin và không có lợi cho việc củng cố, tăng cường sự đồng thuận xã hội đối với sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục.
Việc “thông tin phiến diện, một chiều, thổi phồng khuyết điểm” về tình hình đất nước, trong đó có lĩnh vực giáo dục, cũng là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.
TRUYỀN THÔNG ĐÚNG MỰC, KHÁCH QUAN VỀ GIÁO DỤC LÀ GÓP PHẦN GIỮ VỮNG AN NINH TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA
Thực tế cho thấy, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi tiến hành đổi mới đều không bao giờ trơn tru, bằng phẳng. Giáo dục không những không nằm ngoài quy luật chung đó, mà còn chịu sự đánh giá, giám sát nghiêm ngặt, khắt khe hơn của dư luận xã hội và mọi người, mọi nhà. Điều này dễ hiểu, bởi bất cứ sự đổi mới nào của giáo dục cũng ảnh hưởng đến hàng triệu học sinh, hàng triệu gia đình, hàng triệu phụ huynh. Vì vậy, nếu đổi mới mà không thận trọng, không có lộ trình thích hợp, bước đi cụ thể, giải pháp khả thi, sát thực tế, thì đổi mới giáo dục dễ tạo ra những cú vấp, thậm chí cú sốc cho xã hội.
Trong khi sự kỳ vọng, mong đợi của toàn xã hội vào sự chuyển biến toàn diện của ngành giáo dục rất lớn, thì việc đầu tư nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) cho “nhiệm vụ quốc sách hàng đầu” lại chưa tương xứng, ngang tầm. Trong khi mọi người, mọi nhà, mọi bậc phụ huynh luôn khát khao giáo dục phải sớm làm thay đổi tương lai cho bản thân, con em, gia đình họ, thì tính chất, đặc điểm, yêu cầu của đổi mới giáo dục lại không được phép nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn. Vì thực tiễn chỉ ra rằng, nếu nhiều nghiên cứu, thí nghiệm, thử nghiệm khoa học khác có thể làm tắt, thì riêng đối với khoa học giáo dục phải làm rất công phu, thận trọng và đòi hỏi phải có thời gian, sự kiên trì, bởi nó liên quan đến nhiều thế hệ và sự thịnh suy, hưng vong của cả quốc gia dân tộc.
Ngành giáo dục đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức vì những bất cập từ cơ chế, chính sách chưa được tháo gỡ căn cơ và cả những vấn đề tồn tại từ lâu mà không dễ bề giải quyết trong một sớm một chiều. Để giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự sẻ chia, chung tay góp sức của toàn xã hội. Vì không có lĩnh vực nào mà lại đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong xã hội như lĩnh vực giáo dục. Ở đâu có con người, có tổ chức, có hoạt động là ở đó có giáo dục. Mặt khác, bản chất của giáo dục là một quá trình liên tục từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế khác. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Hồ Chí Minh). Trồng cây ít thì đôi ba năm, dài hơn thì dăm bảy năm, mươi năm là có thể ra hoa kết trái và cho thu hoạch. Nhưng “trồng người” phải kéo dài cả trăm năm, nghĩa là không ngưng nghỉ, không ngắt quãng, mà phải thường xuyên, bền bỉ trao truyền, bồi đắp những tri thức, giá trị mới mà nhân loại đã, đang tạo ra qua từng ngày, từng tháng thì mới có thể đào tạo được một thế hệ con người làm chủ được đất nước, xã hội và xu hướng phát triển của nhân loại.
Phải khẳng định rằng, khát vọng, mong muốn của nhân dân và xã hội vào sự chuyển biến tiến bộ của sự nghiệp giáo dục là rất chính đáng. Điều đáng nói ở đây là, mọi mong muốn, khát vọng phải dựa trên cơ sở hiện thực khách quan của nền giáo dục nói riêng, của điều kiện kinh tế-xã hội đất nước nói chung mới có thể nhìn nhận, đánh giá những vấn đề của giáo dục một cách đạt lý, thấu tình. Dù chưa hẳn hài lòng với những gì ngành giáo dục đã và đang có, nhưng trước khi cầm bút, gõ phím bàn về giáo dục, mỗi chúng ta, trước hết là cán bộ, đảng viên rất cần một “cái đầu lạnh” trong việc xem xét, nhận định về các sự kiện, vấn đề giáo dục một cách trung thực, công tâm, khách quan, vì thông tin về giáo dục có ảnh hưởng mật thiết đến việc giữ gìn an ninh tư tưởng-văn hóa của quốc gia.
Xã hội đặt niềm tin tưởng lớn lao vào ngành giáo dục không chỉ muốn gửi gắm những giá trị tốt đẹp cho tương lai dân tộc, mà còn như muốn thúc giục, nhắc nhở những người làm công tác giáo dục càng phải nỗ lực làm tốt hơn nữa trọng trách cao cả, phận sự lớn lao của mình trước đất nước, nhân dân. Nhưng niềm tin nào cũng rất cần đặt đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, chứ không nên có niềm tin thái quá, vì khi tin gì thái quá dễ làm người trong cuộc thiếu tỉnh táo, thấu đáo khi nhận định, đánh giá những vấn đề, sự kiện giáo dục, nhất là những vấn đề nóng được dư luận xã hội quan tâm.
Khi nhìn nhận, thông tin khách quan, truyền thông đúng mực về giáo dục là chúng ta góp phần động viên, khích lệ hơn 1,2 triệu giáo viên và hơn 22 triệu học sinh giữ vững niềm tin, nhân lên khí thế tích cực trong phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, góp phần thực hiện tốt sự nghiệp đổi mới giáo dục để phấn đấu xây dựng nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn./.
Thiện Văn (qdnd.vn)

Phê phán luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh




Luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Vạch trần sự sai trái, phi khoa học này là việc làm hết sức cần thiết.
Các thế lực thù địch tung ra luận điệu: chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh.
Luận điệu trên của các thế lực thù địch chính là muốn hướng lái dư luận hoài nghi về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gây hoang mang, dao dộng, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất là chúng muốn phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cần khẳng định rõ, luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh của chúng thể hiện rõ quan điểm thù địch, đi ngược lại lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân và của cách mạng, dân tộc Việt Nam. Mưu đồ thâm hiểm mà chúng nhằm tới là xuyên tạc, phủ nhận và hạ bệ cả chủ nghĩa Mác  Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xem xét dưới góc độ phương pháp, việc tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nhận thức phiến diện, siêu hình, phi lôgic và lịch sử, không khoa học. Bởi, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung, hoàn bị bằng những kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin không nhằm tự thân mà nhằm đấu tranh để cải tạo thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin lấy giai cấp công nhân làm vũ khí “vật chất”, còn giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm vũ khí “tinh thần”.
Dưới góc độ khoa học về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về lôgic, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lê-nin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Đồng thời, là toàn bộ chiến lược từng bước đưa cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; là ngọn cờ tư tưởng và kim chỉ nam dẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc trước kia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Năm 1927, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, viết ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích lời của V.I. Lê-nin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong. Hồ Chí Minh đã nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê nin”1. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “cái cẩm nang thần kỳ”, “cái la bàn”, “trí khôn” của Đảng ta. Nó là “vũ khí tinh thần” của giai cấp công nhân, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin “làm cốt” là sự khái quát cô đọng, súc tích và đặc sắc của Hồ Chí Minh về giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Như vậy, về bản chất, lịch sử và lôgic, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Bởi vậy, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Nền tảng tư tưởng vững chắc, khoa học và cách mạng đó chỉ đạo nhận thức, tư duy và phương hướng hành động đúng cho Đảng ta, trang bị cho Đảng vũ khí tư tưởng để làm tròn vai trò tiên phong lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, đường lối chính trị. Đó là hệ thống những chủ trương, chính sách mang tầm chiến lược, sách lược, được khái quát từ thực tiễn, trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng, đáp ứng yêu cầu và soi sáng cho thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, từ khi được soi sáng, dẫn đường bởi chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt Nam mới khắc phục được cuộc khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo cách mạng, đưa đất nước phát triển phù hợp xu hướng thời đại; giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh không những là cơ sở tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng, mà còn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Là nền tảng tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đạo tư duy, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn trong hoạt động của Đảng ta. Thành công của sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua trước hết là thành công của đổi mới tư duy với nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn, trung thành và sáng tạo. Là kim chỉ nam, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đạo phương hướng hành động, giúp cho Đảng dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, lấy dân làm gốc, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, nhân loại đang phát triển trong thời đại của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm thay đổi cơ bản cách tiếp cận, tư duy, lối sống, phong cách làm việc. Trước sự tác động đó, những lý thuyết phát triển mới sẽ lan rộng và ảnh hưởng đến Việt Nam, làm cho những hạn chế, bất cập trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng như ở nước ta càng bộc lộ rõ, ngày càng thách thức đối với hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch càng ra sức công kích nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình thời cuộc và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Nếu không kiên định lập trường, quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ không thể thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nếu không nắm được bản chất khoa học và cách mạng, không nắm chắc nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì khó lý giải đúng, trúng, thuyết phục những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Do đó, cũng không có cơ sở khoa học chắc chắn nhất để đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ trên cơ sở nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên mới có phương pháp luận sắc bén để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với đất nước và ở từng cấp, ngành, địa phương. Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Sức mạnh cải tạo thế giới của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là ở chỗ nó được thâm nhập vào quảng đại quần chúng nhân dân, được quần chúng hiểu, tin và làm theo lý luận đó. Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho cán bộ, đảng viên nắm chắc lập trường, quan điểm, phương pháp để xử trí đúng với mọi việc, với mọi người và với bản thân mỗi người; biết vận dụng sáng tạo vào công tác; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Cần tạo ra sự chuyển biến mới về chất lượng, hiệu quả việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII); khắc phục các biểu hiện hình thức, giản đơn và thái độ thờ ơ, xem nhẹ việc học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên.
Các thế lực thù địch tung ra luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, việc kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần làm thất bại mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.
Đại tá, PGS, TS. LÊ QUÝ TRỊNH, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng
_____________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 28.

Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam 74 năm qua đều bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh


Lịch sử càng lùi xa, thực tiễn lại càng chứng minh chắc chắn hơn một chân lý, đó là: Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 74 năm qua, kể từ khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra đều bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
1. Vai trò của chủ nghĩa Mác  Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học, kế thừa và phát triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại, mà còn là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; đồng thời, là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước tại Việt Nam. Ðảng xác định con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”1.
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đều nhất quán chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình. Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”2. Vì thế, Người không ngừng nghiên cứu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và từng bước cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành những thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thật vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được dẫn dắt bởi Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành thành công cuộc cách mạng thần thánh Tháng Tám năm 1945 - lật đổ chế độ phong kiến lỗi thời, đập tan xiềng xích thực dân để giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 02-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã ra đời.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp trở lại xâm lược. Tháng 5-1954, với Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ta đã làm thay đổi cục diện chiến tranh với Pháp, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Thế nhưng, đế quốc Mỹ lại nhảy vào miền Nam, thế chân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Đảng đã lãnh đạo nhân dân một lần nữa trường kỳ, bền bỉ kháng chiến, kiến quốc. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ thập niên cuối của thế kỷ XX, trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và một số nước Đông Âu sụp đổ; chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, Việt Nam và một số nước xã hội chủ nghĩa vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để thích ứng với sự phát triển của thời đại, chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới trên cơ sở nhận thức đúng, vận dụng và không ngừng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đảng xác định đổi mới toàn diện đồng bộ, nhưng có trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn; đặt đổi mới tư duy lên hàng đầu để mở đường và định hướng cho quá trình đổi mới; trong đó, đổi mới phát triển kinh tế là trung tâm và đi trước một bước; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; lấy sự ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, làm điều kiện tiên quyết cho sự nghiệp đổi mới và phát triển.
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
2. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam trong 74 năm qua đã khẳng định vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Vận dụng, bổ sung, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định kiên trì đưa đất nước phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội, trong đó, “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa là đặc trưng vừa là mục đích của chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Về kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển. Đảng coi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là hình thức tối ưu thực hiện quyền lực của nhân dân; văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, v.v. Đây là kết quả của sự tổng kết thực tiễn, tiếp thu, vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin cũng như những thành tựu của văn hóa nhân loại.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hiện nay có nhiều biến động, khó dự báo; các thế lực thù địch và phản động không ngừng xuyên tạc, chống phá, phủ định sạch trơn chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, cho rằng tư tưởng Mác – Lê-nin đã lỗi thời, không phù hợp với bối cảnh lịch sử của phương Đông, đặc biệt là của Việt Nam hiện nay. Từ đó, phủ nhận vai trò lãnh đạo hợp pháp và chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, chúng cho rằng tất yếu phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Vì vậy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong thời kỳ cách mạng mới của đất nước là nhiệm vụ quan trọng của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Đó là công việc đòi hỏi sự tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên. Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ những nguyên lý, bảo vệ lập trường, phương pháp và những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Chúng ta phải dùng thành quả của thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn trong lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở vật chất vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngược lại, phải phát huy sức mạnh thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong việc phát hiện, giải quyết những vấn đề của thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ với những luận điệu xuyên tạc, vu khống chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch.
Thực tiễn cho thấy, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, thế giới đang hướng về những giá trị nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ luôn tiếp tục soi sáng cho chúng ta về một xã hội tiến bộ, công bằng và nhân văn. Các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm, phương pháp của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, Hồ Chí Minh luôn là lý luận và phương pháp luận khoa học để giúp chúng ta nhận thức và cải tạo thế giới; đồng thời, đòi hỏi cần bổ sung, phát triển cho phù hợp với quy luật vận động, phát triển không ngừng của thế giới tự nhiên và xã hội.
PGS, TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
___________
1 - Hồ Chí Mnh - Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, Tập 12, tr. 563.
2 - Sđd, Tập 2, tr. 289.