Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy với nâng cao vai trò, trách nhiệm của đảng viên và tổ chức đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái

Một số kết quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thể chế quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng được tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tương đối đồng bộ, toàn diện. Hệ thống các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng hiện nay đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý cơ bản đồng bộ cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Sau 10 năm kể từ ngày thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành 29 văn bản; Quốc hội ban hành 14 văn bản; Chính phủ ban hành 22 văn bản; Thủ tướng Chính phủ ban hành 23 văn bản về công tác phòng, chống tham nhũng. Quốc hội (khóa XII, XIII) đã ban hành 175 Bộ luật; Chính phủ ban hành 1.311 nghị định, 604 Nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành 6.110 Chỉ thị, Quyết định trên các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội; cả nước ban hành mới hơn 34.885 văn bản và sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ 27.120 văn bản về chế độ, định mức, tiêu chuẩn trên các lĩnh vực. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã ban hành 26.700 văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; tổ chức kiểm tra, giám sát 105.519 cuộc đối với các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý 1.008 vụ việc, vụ án tham nhũng.
Việc ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và việc chỉ đạo Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước (Luật Phòng, chống tham nhũng, Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, Nghị định về minh bạch tài sản, phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng...), góp phần đấu tranh đẩy lùi tình trạng tham nhũng, suy thoái.
Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng được quan tâm, vai trò của báo chí trong phòng, chống tham nhũng bước đầu được phát huy góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trong phòng, chống tham nhũng. Các cấp ủy, tổ chức đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng gắn với việc triển khai các Chỉ thị của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII; Quy định của Ban Chấp hành Hội nghị Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo... Từ năm học 2013 - 2014, việc giảng dạy nội dung phòng, chống tham nhũng tại các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước. Các cơ quan thông tấn báo chí có nhiều tin bài về phòng, chống tham nhũng; phát hiện, lên án, phê phán những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giám sát việc xử lý và thông tin kịp thời kết quả xử lý các vụ việc, vụ án, tạo hiệu ứng xã hội tích cực cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. 
Vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng chống tham nhũng được nâng lên. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chủ động và tích cực kiểm tra, giám sát đảng viên trong việc thực hiện quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, là tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để phòng, chống tham nhũng được quan tâm. Nhiều quy định của Đảng, Nhà nước theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch được xây dựng, sửa đổi, bổ sung, ban hành và tổ chức thực hiện nhất là trong việc tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, giới thiệu cán bộ ứng cử; lấy phiếu tín nhiệm một số chức danh lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. 
Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng; minh bạch tài sản, thu nhập; chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức để phòng, chống tham nhũng; tiếp tục cải cách tiền lương, giao quyền tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị; xây dựng quy tắc ứng xử...được triển khai thực hiện, phát huy kết quả bước đầu trong phòng ngừa tham nhũng. Từ năm 2006 đến nay, đã có gần 1.000 người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình trực tiếp quản lý, phụ trách, có tác dụng răn đe cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng. Các bộ, ngành, địa phương đã chuyển đổi vị trí công tác 310.694 lượt cán bộ, công chức, viên chức để phòng, chống tham nhũng. Cải cách hành chính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên đã được coi trọng thực hiện, có 4.859 trường hợp được xác minh, phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực.
Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương được thành lập và đi vào hoạt động nề nếp, hiệu quả. Các đơn vị chuyên trách phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao tiếp tục được củng cố, kiện toàn, là lực lượng chủ đạo trong công tác phòng, chống tham nhũng. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án trọng điểm, nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng. Từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng.
Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng được quan tâm hơn. Ngoài các cuộc giám sát chuyên đề, công tác phòng, chống tham nhũng được giám sát trong các kỳ họp Quốc hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo quy định của Đảng.
Việc thực hiện các Nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và quá trình chuẩn bị, tiến hành kiểm điểm phê bình trong Đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và việc khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm được kết luận sau tự phê bình và phê bình đã góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; tạo chuyển biến bước đầu trong ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm và góp phần làm trong sạch Đảng. 
Thông qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đã nhận dạng rõ hơn, cụ thể hơn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; thấy rõ nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và yêu cầu cấp bách phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã rà soát, bổ sung, hoàn thiện và xây dựng, ban hành các quy chế, quy định mới để thực hiện; từng bước chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác tư tưởng chính trị, công tác tổ chức cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đổi mới phong cách, lề lối làm việc, từng bước sửa chữa khuyết điểm, điều chỉnh hành vi trong công tác, cuộc sống của bản thân, gia đình và người thân.
Tuy nhiên, việc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chậm đổi mới và chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả; ý thức tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ luật đảng của cán bộ, đảng viên còn hạn chế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu còn bị buông lỏng, chưa thường xuyên, thiếu kiên quyết; nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, coi nhẹ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm; việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số quy định của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chưa kịp thời, chưa đồng bộ, còn thiếu tính khả thi; công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật còn chưa đủ mạnh, hiệu lực, hiệu quả còn hạn chế, không nghiêm túc; việc xử lý cán bộ tham nhũng, suy thoái còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết; chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái; thiếu chế tài cụ thể để truy cứu trách nhiệm hoặc xử lý khi có vi phạm; cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở; việc kê khai tài sản thu nhập còn hình thức; việc phát huy vai trò của Quốc hội, hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong giám sát, đấu tranh, ngăn chặn tham nhũng, suy thoái trong cán bộ, đảng viên chưa được đầy đủ, đồng bộ, còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Các cơ quan báo chí chưa chú trọng phát hiện biểu dương gương người tốt, việc tốt, một số nhà báo, cơ quan báo chí còn chạy theo thị hiếu, câu khách, tuyên truyền các vi phạm tham nhũng, suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên không thật chính xác, đôi khi quá mức, để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, gây hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyết tâm của Đảng và Nhân dân ta về việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái...
Một số vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái trong thời gian tới 
Tình hình tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều cấp ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực; xuất hiện tham nhũng có tính lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực; tính chất, mức độ tham nhũng ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, thủ đoạn tinh vi hơn; tính có tổ chức của các vụ việc, vụ án tham nhũng ngày càng rõ nét hơn, có sự câu kết trong nội bộ với ngoài xã hội, với doanh nghiệp sân sau; tình trạng tham nhũng vặt vẫn còn nhức nhối... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động đối với Đảng, Nhà nước ta với những âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, tạo điều kiện, nhân tố chống phá từ bên trong ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.
Vì vậy, cần xác định cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái rất cam go, phức tạp, phải thực hiện kiên trì, bền bỉ, kiên quyết, lâu dài, không được chủ quan nóng vội. Để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái trong Đảng có kết quả, cần tập trung vào một số vấn đề chính yếu sau đây:
Một là, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tiên phong, guơng mẫu của cán bộ, đảng viên, sự hưởng ứng, đồng lòng của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, gắn với phát huy tính tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái của cả hệ thống chính trị và của nhân dân. 
Các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, suy thoái, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Quy chế chất vấn trong Đảng nhằm tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, trình độ chính trị, giác ngộ của cán bộ, đảng viên, từ đó nâng cao sức đề kháng nội sinh trong Đảng, hệ thống chính trị; nêu cao ý thức cảnh giác, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái gắn với đấu tranh chống xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta trong mọi tình huống. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải nêu cao vai trò, trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, cần có lối trong sáng, lành mạnh, tiết kiệm; có cam kết không tham nhũng, suy thoái và đi đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái. Kịp thời thay thế, điều chuyển công tác cán bộ, đảng viên có biểu hiện tham nhũng, suy thoái nghiêm trọng; tạm đình chỉ công tác, chức vụ khi có dấu hiệu vi phạm để kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời, nghiêm minh và công khai kết quả giải quyết, xử lý. Xây dựng chiến lược phát triển đạo đức công vụ, gắn với đạo đức cách mạng và đạo đức xã hội với sự tham gia giám sát, phản biện của nhân dân.
Hai là, hoàn thiện quy định nhận xét đánh giá cán bộ, đánh giá chất lượng đảng viên, tổ chức đảng bảo đảm đúng thực chất, tránh hình thức; đề cao tự giác, tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt chi bộ, cấp ủy các cấp, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa, phấn đấu vươn lên. Kịp thời biểu dương tổ chức, cá nhân thực hiện tốt, có thành tích; phê phán, kiểm điểm, xử lý những tổ chức, cá nhân thiếu gương mẫu, thiếu tự giác, có khuyết điểm, sai phạm. Thực hiện tốt phương châm kết hợp “xây” và “chống”, trong đó xây phải chủ động, tích cực, chủ đạo; chống phải mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả để thúc đẩy xây có hiệu lực, hiệu quả hơn. Xử lý nghiêm, đồng bộ kỷ luật đảng với kỷ luật hành chính, đoàn thể và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ, đảng viên, công chức có khuyết điểm, vi phạm về tham nhũng, suy thoái nghiêm trọng.
Ba là, có giải pháp thuận lợi khuyến khích nhân dân tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái. Xây dựng hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách, biện pháp hữu hiệu để chống tham nhũng cả ở khu vực công và khu vực tư, bảo đảm cán bộ, công chức “không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng và không dám tham nhũng”. Chú trọng việc giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên; hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát bảo đảm chặt chẽ việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn, nhất là người đứng đầu; xây dựng và thực hiện Đề án tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực; về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của ủy ban kiểm tra đảng các cấp trong công tác phòng, chống tham nhũng. Xây dựng quy định về xử lý tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có lời nói, việc làm thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chế tài xử lý trong thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. 
Bốn là, tăng cường chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, phổ biến kịp thời đầy đủ các đường lối, chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, gắn với chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về các nội dung nêu trên. Chỉ đạo cơ quan báo chí tăng cường phát hiện, tuyên truyền gương người tốt việc tốt, cái tốt, cái tích cực để đẩy lùi cái xấu, tiêu cực; phản ánh kịp thời, chính xác, đúng mức, thực chất các vụ việc tham nhũng, biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên./.
Thái Minh Vũ

Việt Nam không cần và không chấp nhận đa Đảng


ĐẰNG SAU NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐÒI ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?
Đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phá hoại cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tập trung tung ra nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo”(!); rằng ở Việt Nam “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”(!). Chúng quy kết: “Độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại”(!) và khuyên rằng “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”(!). Các thế lực thù địch đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp, xoá bỏ Điều 4, hiến định về Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội.
Không chỉ dừng lại với những luận điệu trên, chúng còn thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, quản lý xã hội để minh chứng cho sự cần thiết “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”(!). Chúng ra sức khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái biến chất, tham ô, tham nhũng, kích động nhằm tạo sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân. Chúng hô hào, khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trắng trợn hơn, chúng đã ra sức xây dựng, nhen nhóm các tổ chức đảng đối lập phản động, như cái gọi là “Đảng Dân chủ”, “Đảng Dân chủ xã hội”, “Đảng Dân chủ tự do Thiên chúa giáo”, “Đảng Dân chủ tự do Phật giáo”...
Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền, hoạt động chống phá ấy, đều không ngoài mục đích hàng đầu và quan trọng nhất là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Đó là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch.
Ở VIỆT NAM KHÔNG CẦN VÀ KHÔNG CHẤP NHẬN CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG!
Dựa trên cơ sở khoa học cụ thể cả về lý luận và thực tiễn, cho phép chúng ta khẳng định rứt khoát rằng: Ở Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng!
Trước hết, dưới góc độ lý luận: Trong lịch sử, chế độ đa nguyên, đa đảng đã sớm xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII. Đây là thời điểm giai cấp tư sản đóng vai trò là lực lượng tiến bộ, tích cực đi tiên phong trong đấu tranh chống phong kiến, bảo vệ quyền bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do, dân chủ tư sản. Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng chính là chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Chiristian Woiff (1679-1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên phủ định tính thống nhất của thế giới, cường điệu cái riêng; phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Vì vậy, đây là một học thuyết phi mácxít. Nếu áp dụng quan điểm này vào chủ nghĩa xã hội sẽ dẫn tới hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân thành một tổ chức tầm thường và nguy cơ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Như thế, chủ nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phi khoa học, trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ vẫn mãi xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Chính điều đó đã, đang và sẽ mãi bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng chính trị duy nhất tồn tại, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Do vậy, ở Việt Nam không cần sự tồn tại của chủ nghĩa đa nguyên - một thứ cơ sở lý luận cho việc thực hiện chế độ đa đảng.
Thứ hai, trên phương diện thực tiễn: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử; là ý nguyện của nhân dân Việt Nam. Điều này được lịch sử minh chứng rõ ràng. Vượt lên trên tất cả những hạn chế về đường hướng, phương pháp của những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam đã hướng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, do Nguyễn Ái Quốc truyền bá và phát triển mạnh mẽ. Đáp ứng đòi hỏi đó, trải qua quá trình được chuẩn bị chín muồi về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đã khẳng định lấy “chủ nghĩa Lênin làm cốt”. Đây là một tất yếu lịch sử và cũng từ đây, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời đại mới cho lịch sử dân tộc.
Trong thời kỳ 1930 - 1945, lịch sử Việt Nam đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không cần thêm bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào khác lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành chính quyền mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội - đó chính là công lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong những năm 1945-1946, do bối cảnh tình hình chính trị diễn biến phức tạp, ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại một số đảng phái đối lập như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội..., nhưng trên thực tế, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng. Các đảng phái, tổ chức đối lập thời kỳ này đã không vì lợi ích quốc gia, dân tộc mà âm mưu phá hoại cách mạng, xoá bỏ chính quyền cách mạng non trẻ, nên bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ.
Trong cuộc trường chinh 30 năm (1945-1975) kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một lần nữa lịch sử và nhân dân lại lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này hoàn toàn tự nguyện giải tán. Cũng trong thời gian này, còn có những đảng phái thân Pháp, thân Mỹ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và lợi ích của nhân dân lao động, nên cũng đã bị chính nhân dân ta đấu tranh loại bỏ.
Từ sau năm 1975 đến nay, nền chính trị nhất nguyên, với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển toàn diện, đã một lần nữa khẳng định tính tất yếu khách quan: Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng. Với bản lĩnh, trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, vượt qua khủng hoảng gay gắt về kinh tế - xã hội, trở thành một quốc gia đang phát triển hết sức năng động. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hoá, xã hội có nhiều bước phát triển; vị thế, uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trong khu vực và trên trường quốc tế. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đạt được những tiêu chí cao nhất trong hoạt động chính trị của một đảng cầm quyền (dù là chế độ đa đảng hay một đảng đều phải hướng tới vấn đề cốt tử nhất), đó là: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hoá, xã hội phát triển bền vững, an sinh xã hội được bảo đảm. Chính thực tiễn này đã khẳng định, ở Việt Nam hiện nay không cần đa đảng và cũng đúng với nhận định của đồng chí Nguyễn Phú Trọng: “Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ”(1).
Một trong những luận điệu tuyên truyền được các thế lực thù địch tập trung tung hô, cổ suý nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”(!). Họ cho rằng: “Đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”(!); Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ “thực sự”(!); “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng””(!)... Chúng ta đều biết rằng, dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Dân chủ tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C.Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế xã hội đó quyết định”(2). Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít những nước đa đảng, nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ vẫn được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng là: đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển, đúng như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”(3).
Cũng từ thực tiễn lịch sử đã cho thấy, một điều hết sức đau xót đối với cách mạng thế giới, đó là sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xôviết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Đặc biệt, ở Liên Xô, dưới tác động bởi những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, cùng với sự “phản bội” của một số người trong Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đứng đầu là M.Gorbachev đã đưa tới tại Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân ngày 15-3-1990, quyết định xoá bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô, hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bắt đầu từ điểm mốc này, đã hình thành chế độ đa đảng ở Liên Xô, với sự ra đời của vô số các tổ chức, đảng phái chính trị, đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, để rồi đưa tới một kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trong hơn 70 năm hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8-1991. Chính bài học thực tiễn đau xót này chỉ ra rằng, nếu hiện nay Việt Nam chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì kết cục chắc chắn sẽ không khác gì như Liên Xô trước đây.
Cũng cần phải làm rõ hơn, các lập luận của những người muốn thực hiện đa đảng ở Việt Nam thường lấy “thực tiễn” ở các nước tư bản để minh chứng, dẫn tới một số người do thiếu hiểu biết nên đã ít nhiều tin vào những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, mà lầm tưởng rằng cứ nhiều đảng cạnh tranh thì sẽ dân chủ hơn, xã hội phát triển hơn.
Hãy nhìn sang một số nước tư bản hiện nay, nhất là nước Mỹ với sự tồn tại của 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà) thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất chỉ là một đảng - đảng của giai cấp tư sản. Vì thế, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hoà nắm quyền, cũng đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản; dân chủ ở Mỹ không gì khác là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu tại sao ở Mỹ, bên cạnh “một xã hội” với những người có cuộc sống xa hoa, hào nhoáng thì vẫn còn tồn tại “một xã hội” hoàn toàn khác hẳn, gồm hàng chục triệu người phải sống trong sự bất công, thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật, không có quyền dân chủ... Chính người Mỹ, Paul Mishler - Giáo sư trường Đại học bang Indiana đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng này: Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học,v.v.. đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là Đảng Cộng hoà hay Dân chủ(4).
Như vậy, thực chất luận điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mang nặng tính chất mị dân, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế. Từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và mất dần niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng từ những luận điểm này, đã hướng đến việc xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thiết lập nền dân chủ tư sản; nguy cơ gây nên những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị - xã hội mất ổn định, kinh tế suy giảm, văn hoá đạo đức xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội sẽ gia tăng, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc... Từ đó, chắc chắn hậu quả đối với đất nước sẽ vô cùng lớn, chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ, thành quả cách mạng bao nhiêu năm có được sẽ tan vỡ; người dân không những không được dân chủ, mà xã hội cũng rơi vào rối loạn, khủng hoảng, trì trệ, không phát triển được.
Để không để xảy ra những hậu quả tai hại đó, ở Việt Nam hiện nay, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn!

PGS.TS. Nguyễn Xuân Tú
(Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 7/2018)
_________________________


(1), (3) Thông tấn xã Việt Nam, ngày 26-2-2010. (2) C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, t.19, tr.36. (4) Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 7 (106), 2009, tr.87-89.

Chống tham nhũng có phải là đấu đá phe phái?


Không phải chỉ những kẻ chống đối, cố tình khoét sâu vào điểm yếu tham nhũng, mà không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn hoài nghi tính hiệu lực, hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay. Là một trong những đội quân xung kích bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, những người làm công tác tư tưởng, lý luận đã rất tích cực trong việc tuyên truyền, làm rõ quan điểm của Đảng đối với tham nhũng và những thành tựu trong thực tế đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nhưng để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, cần có những lập luận không những vững về khoa học, mà cần có sức thuyết phục từ sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận sự thật, để đề xuất các giải pháp thực tiễn, khả thi của người làm công tác tư tưởng, lý luận. Điều cần phải thừa nhận là, nếu không có tiến bộ trong thực tế đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thì dù rất cố gắng, việc đấu tranh tư tưởng của đội ngũ những người làm lý luận, tuyên truyền với những thế lực chống đối, những người có quan điểm sai trái sẽ chỉ có kết quả rất hạn chế.
Điều này có thể khẳng định từ một số luận điểm:
1. Không phải vì một đảng mà nảy sinh tham nhũng, cũng không phải chỉ có đa đảng mới có thể diệt trừ được tham nhũng.
Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh đa đảng vẫn có thể nảy sinh tham nhũng, vẫn có thể khó khăn đấu tranh, ngăn chặn tham nhũng. Bằng chứng là nhiều nước đa đảng, thường xuyên được xếp hàng đầu thế giới về chống tham nhũng thì cũng chưa nước nào đạt được 90 trên 100 điểm tuyệt đối theo thang điểm của Tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International viết tắt là TI). Ví dụ, năm 2017, Niu Dilân xếp thứ nhất đạt 89 điểm; Đan Mạch xếp thứ hai đạt 88 điểm; Phần Lan thứ ba, Na Uy thứ tư, Thụy Sĩ thứ năm cùng 85 điểm; Thụy Điển thứ sáu với 84 điểm; Canada thứ bảy với 82 điểm; Luxembourg thứ tám với 82 điểm; Hà Lan thứ chín với 82 điểm; Anh thứ mười cùng 82 điểm; Đức thứ mười một với 81 điểm... Như vậy là tham nhũng vẫn hiện diện ở ngay những nước đa đảng vốn được phương Tây tự coi là dân chủ và trong sạch nhất.
Vậy đâu là những nhân tố quan trọng nhất tạo điều kiện nảy sinh và phát triển tham nhũng? Theo tổng kết của các nhà nghiên cứu và các tổ chức chống tham nhũng quốc tế, đó là: Hệ thống chính trị và hành chính thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, tạo điều kiện cho người có chức vụ, quyền hạn có thể thu lợi bất chính mà không bị ngăn chặn từ bên trong; Thể chế thiếu minh bạch, dân chủ, tạo ra nhiều “vùng tối” khiến người dân khó giám sát và tố cáo hành vi tham nhũng; Chính sách đãi ngộ không đủ bảo đảm mức sống xứng đáng, nhất là trong môi trường kinh tế thị trường, khiến cho người có chức vụ quyền hạn phải tham nhũng như hành vi bất đắc dĩ; Hệ thống pháp luật thiếu nghiêm minh, khiến cho người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi tham nhũng mà không sợ bị trừng phạt; Văn hóa chính trị và công vụ thiếu chú trọng danh dự, liêm sỉ, thiếu đề cao sự trung thực khiến cho kẻ có chức, có quyền không sợ mất danh dự khi tham nhũng; Hệ thống báo chí, truyền thông thiếu dũng khí, không trở thành công cụ hữu hiệu để giám sát, tố cáo hành vi tham nhũng và gây áp lực với đấu tranh chống tham nhũng.
Bất cứ ở đâu, dù là một đảng hay đa đảng, song còn những nhân tố như trên thì đều có thể là mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng, gây khó khăn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Nói cách khác, chống tham nhũng là “thuốc thử” cho phẩm chất và năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền. Điều này càng đúng đối với Đảng Cộng sản.
Thực tiễn của nhiều nước chuyển đổi từ một đảng lãnh đạo tới đa đảng cạnh tranh tự do cho thấy, nếu chưa thiết lập được thể chế kinh tế thị trường vững vàng, thể chế pháp lý chặt chẽ, nền công vụ có kỷ luật thì quá trình chuyển đổi đó càng tạo điều kiện cho tham nhũng nảy nở, phát triển mạnh mẽ, thậm chí thành đại dịch của đất nước (nước Nga đã từng mất hàng chục năm như vậy và hiện nay vẫn còn bị xếp vào nhóm dưới của bảng xếp hạng tham nhũng với thứ hạng 135/180 với 29/100 điểm, thấp hơn khá nhiều so với Việt Nam).
Nhìn lại thể chế chính trị và văn hóa của nước ta trong những thập niên vừa qua, nhất là từ khi thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phải thẳng thắn thừa nhận có nhiều khiếm khuyết tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển, mặc dù điều này đi trái bản chất của Đảng và Nhà nước ta. Trước hết, chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc thiết kế, xây dựng các thể chế pháp lý cho kinh tế thị trường, trong quản lý các dự án, chương trình phát triển của nhà nước; xây dựng các cơ chế, giải pháp phòng ngừa và chống tham nhũng.
Chúng ta cũng chưa quyết liệt trong đổi mới tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Đặc biệt chế độ tiền lương của cán bộ, công chức vẫn còn bị kìm hãm bởi tư duy cũ về công bằng, bình đằng trong phân phối, hưởng thụ, khiến cho tham nhũng trở thành “nguồn sống” đối với không ít cán bộ, công chức.
Từ khi thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều dự án, chương trình, kế hoạch được triển khai nhưng thiếu cơ chế quản lý giám sát ngay từ đầu đã tạo cơ hội cho tham nhũng. Các khoản hoa hồng, chia chác, gửi giá... gần như đã thành thông lệ giữa các bên A, B. Việc đấu thầu công khai đã trở thành bình phong của sự sắp đặt, sau đó có ăn chia giữa các bên. Có thể nói, tham nhũng dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ đã trở thành thói quen của một bộ phận công chức thực hiện chính sách, dự án.
Vì những nguyên nhân chủ yếu đó, theo xếp hạng của Tổ chức minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng (Coruption perceptions index - CPI) của Việt Nam trong nhiều năm luôn ở mức trung bình. Từ 2012 đến 2015 chỉ dừng ở mức 31/100 điểm. Nhờ có những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong chống tham nhũng, năm 2016 CPI tăng được 2 điểm lên đến 33 và 2017 tăng lên đến 35 điểm, xếp thứ 107 trên tổng số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, yếu tố quyết định để đánh giá tình trạng tham nhũng chính là sự quyết tâm và biện pháp có hiệu quả của Đảng và Nhà nước, cụ thể là của người đứng đầu nhà nước. Nếu không có điều này thì dù có thể chế dân chủ hoàn thiện đến mấy cũng không thể triệt tiêu được tham nhũng.
Từ yêu cầu của thời đại và phát triển đất nước, đã đến lúc phải nhận thức rõ hơn về ý nghĩa của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đối với vận mệnh của Đảng ta và hơn thế là với vận mệnh, sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang định hướng xây dựng.
2. Trong thể chế một đảng cộng sản cầm quyền, có thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng có kết quả, cần phải có quyết tâm triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt.
Trong điều kiện một đảng cầm quyền, có thể tham nhũng sẽ giảm xuống, thậm chí bị hạn chế tối đa nếu đảng khắc phục được những nhân tố trên. Thực tiễn đấu tranh quyết liệt với tham nhũng ở Trung Quốc trong những năm gần đây dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã đưa Trung Quốc vào nhóm xếp hạng tương đối cao về chống tham nhũng.
Những nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua, với việc đưa ra truy tố, xét xử những cán bộ cao cấp liên quan tới các vụ việc tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được quần chúng và đông đảo cán bộ vui mừng, tin tưởng và ủng hộ, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực.
Người dân hiểu rõ, với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình, trong Đảng Cộng sản Việt Nam có thể có những quan điểm, ý kiến khác nhau giữa các cá nhân, thậm chí giữa một số đảng viên này với một số đảng viên kia, nhưng chưa bao giờ và không bao giờ được phép tồn tại các phe phái. Do đó, đấu tranh chống tham nhũng, có thể động chạm đến bất cứ ai, nhưng không phải là đấu tranh phe phái như thường thấy ở nhiều đảng chính trị khác.
Hơn thế, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang diễn ra có kết quả chứng tỏ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
Điều đó cho thấy, dù ở Việt Nam chỉ một đảng lãnh đạo, thì không những có thể mà còn có nhiều thuận lợi trong đấu tranh chống tham nhũng. Thuận lợi đó trước hết bắt nguồn từ bản chất vì dân, vì nước của một Đảng Cộng sản trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, được Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; vì có được sự yêu mến, tin tưởng, ủng hộ của nhân dân với Đảng; từ nguyên tắc tổ chức thống nhất, đoàn kết của Đảng. Vấn đề đặt ra là khơi nguồn và phát huy những nhân tố thuận lợi trên như thế nào. Những khuyến cáo của tổ chức Minh bạch thế giới với mọi quốc gia nói chung, với Việt Nam nói riêng là đúng đắn, dựa trên những nghiên cứu khoa học, khách quan. Ở đây, xin nhấn mạnh thêm một số khẳng định:
Điều đầu tiên, phải thừa nhận ở Việt Nam cũng như các nước khác, tham nhũng có thể nảy sinh trong đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành, trong các cơ quan Nhà nước và Đảng. Dù mang bản chất vì dân, vì nước, nhưng không phải đảng cộng sản có thể miễn trừ với tham nhũng, nhất là trong phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Do đó, phòng ngừa và chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, với chế độ. Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa và chống tham nhũng cần luôn cập nhật với thực tiễn phát triển của đất nước, tiếp cận chuẩn mực quốc tế.
Thứ hai, phải coi phòng ngừa và chống tham nhũng là một trong các mục tiêu của mọi chiến lược, kế hoạch phát triển của đất nước. Nói cách khác, phải gắn mục tiêu phòng ngừa và chống tham nhũng với mục tiêu phát triển; gắn cơ chế, giải pháp phòng ngừa, chống tham nhũng vào cơ chế, giải pháp thi hành chính sách, pháp luật. Hiện nay, điều này chưa được quán triệt, nên còn nhiều khe hở tạo điều kiện cho những người có chức, có quyền, kể cả doanh nghiệp lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng.
Phát triển Chính phủ điện tử là một giải pháp hữu hiệu cần phải được thúc đẩy. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia có trình độ phát triển Chính phủ điện tử cao thì cũng là các quốc gia có môi trường kinh doanh tốt và mức độ tham nhũng thấp (ví dụ các nước Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Anh, Singapore, Canada….). Trong những năm 2016, 2017, khi Việt Nam cải thiện được Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (trong đó có chỉ số về Dịch vụ công trực tuyến) thì không những nâng cao được chỉ số môi trường kinh doanh (năm 2018 tăng 14 bậc); đồng thời, cũng nâng cao được điểm chống tham nhũng (tăng 4 điểm so với 2012-2015).
Cần phải coi cải cách chế độ tiền lương theo hướng công bằng thực chất, không phải là cào bằng, là bình quân chủ nghĩa là một giải pháp quan trọng, tạo động lực của đội ngũ cán bộ công chức trong khu vực công tận tụy, có trách nhiệm và đạo đức công vụ, tránh xa các hành vi tham nhũng.
Thứ ba, cần có quyết tâm cao của toàn Đảng, nhất là cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng. Để có được điều này, đòi hỏi Đảng phải lựa chọn được những người lãnh đạo xứng đáng đủ năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức trong sáng, có quyết tâm cao chống tham nhũng./.

PGS.TS. Vũ Hoàng Công

Vận dụng sáng tạo luận điểm của Lênin về bảo vệ an ninh Tổ quốc

Khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Pháp năm 1969, Người khẳng định: "Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi đó, trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin". (2)
Trong di sản lý luận vĩ đại của Lênin có học thuyết về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chứa đựng giá trị lịch sử và thực tiễn to lớn. Người đưa ra luận điểm nổi tiếng về giữ vững an ninh chính trị sau khi nhân dân giành được chính quyền. Người khẳng định: Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ; xây dựng Tổ quốc gắn với bảo vệ Tổ quốc là một quy luật khách quan; kết hợp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với vai trò tổ chức, quản lý của Nhà nước cách mạng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp giữ vững an ninh chính trị, an ninh quốc gia…
Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, được bổ sung, phát triển qua từng thời kỳ. Đấy là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong bất cứ tình huống nào; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Bảo vệ an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay mang tính tổng hợp, không chỉ là an ninh truyền thống mà cả an ninh phi truyền thống đang tác động lẫn nhau, với tính phức tạp và những yếu tố đột xuất, bất ngờ.
Lực lượng nòng cốt chuyên trách bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta là Công an nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, dựa vào sức mạnh của nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, kết hợp an ninh với quốc phòng và đối ngoại. Nhiệm vụ đó của Công an nhân dân được thực hiện tốt thì góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện đất nước ta phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Có ổn định mới có phát triển và ngược lại, không ổn định thì không có phát triển. Ổn định là điều kiện, tiền đề để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Lực lượng Công an nhân dân ngày nay trong khi thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội phải nhằm phục vụ phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, lợi ích vật chất, tinh thần và quyền làm chủ của nhân dân. Điều đó đòi hỏi Công an nhân dân không chỉ phát huy ý chí và sức mạnh chiến đấu của mình mà cả trí tuệ, mưu lược, lòng dũng cảm và ý thức bảo đảm một nền pháp chế vững bền, tôn trọng các quyền con người như Lênin từng căn dặn Ủy ban An ninh quốc gia là cơ quan chuyên trách chống các hành vi vi phạm an ninh quốc gia.
Thiết thực kỷ niệm 140 năm Ngày sinh Lênin, Công an nhân dân Việt Nam "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ cao cả giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, bảo đảm thành công đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.1, tr.239, NXBCTQG, HN 1996.(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.12, tr.476, NXBCTQG, HN 1996.
H.H.

Yêu nước thế nào cho đúng

Thể hiện lòng yêu nước luôn là nhu cầu của mọi công dân chân chính. Nhưng thể hiện lòng yêu nước theo cách như thế nào cho hợp lý, cho đúng, mà trước hết là đúng pháp luật, cho văn minh lại là một câu chuyện khác. Nếu nhân danh lòng yêu nước mà phá hoại tài sản của Nhà nước, chống lại người thi hành công vụ, gây thương tích cho chính đồng bào mình, thì đó là vi phạm pháp luật, đi ngược lại với mong muốn thiện lương của nhân dân. 
Nói yêu nước suông thì dễ, nhưng chứng minh lòng yêu nước bằng những hành động cụ thể thì xem chừng không hề dễ. Điều này có thể nhìn rõ từ câu chuyện buồn vừa xảy ra ở Bình Thuận, trong những ngày tháng 6 vừa qua.
Công an đang khám nghiệm hiện trường.
Bình Thuận chưa bao giờ là địa danh được nhắc nhiều đến thế trên truyền thông, như những ngày vừa rồi. Khởi điểm là ngày 10-6, khi Quốc lộ 1 đoạn qua thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong bị ách tắc nhiều giờ liền. Hàng chục xe công vụ của tỉnh, xe chữa cháy, xe chuyên dụng ở trụ sở Cảnh sát PCCC gần cầu Nam bị những người quá khích thiêu rụi. 
Dòng người quá khích đó đã tràn vào trụ sở Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh, UBND tỉnh và không ngừng đập phá. Hàng chục Công an, Cảnh sát cơ động bị thương tích phải đưa tới bệnh viện cấp cứu. Hơn 100 con người có hành động phá hoại tài sản của Nhà nước bị bắt giữ. 
Sự việc nóng đến mức, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phải lên tiếng kêu gọi nhân dân ở Bình Thuận và một số địa phương khác hãy thể hiện lòng yêu nước một cách bình tĩnh, không cực đoan, thái quá.
Trên mạng xã hội lan truyền một đoạn clip ghi lại cảnh những người dân quá khích không ngừng ném gạch đá, cành cây, hay bất cứ thứ gì có thể về phía lực lượng Cảnh sát cơ động. Họ hò hét, la ó, chửi rủa. 
Trong khi lực lượng  bảo vệ lựa chọn giải pháp nhẫn nại chịu đựng, không tấn công hay dùng vũ lực với nhân dân, đồng bào mình. Hành động che chắn nhu mì, hứng chịu sự cuồng nộ của đám người quá khích mà không tấn công lại, cho dù có đủ phương tiện vũ khí của lực lượng bảo vệ đã tạo ra một cảm xúc mạnh mẽ trong cộng đồng. 
Điều này gửi đi một thông điệp, Nhà nước, chính quyền và các lực lượng chức năng không lựa chọn cách đối đầu với nhân dân, cho dù cách hành xử của một số người dân đang sai, đang vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Lựa chọn đó của lực lượng bảo vệ cũng là một biểu hiện ôn hòa của lòng yêu nước. Rằng nhân dân sẽ được lắng nghe nhiều hơn, cho dù họ đang bức xúc vì bất cứ lý do gì. 
Không dùng bạo lực với nhân dân, không bắn vào nơi mình đã được sinh ra, là một gửi gắm vô cùng đáng khen ngợi. Chính quyền Bình Thuận đã xử lý mềm dẻo, hợp lý, nhờ vậy mới có thể hạ hỏa được những cái đầu nóng quá mức lại đang bị lôi kéo bởi các thế lực thù địch, giúp cho tình hình lắng dịu dần. 
Mạng xã hội cũng truyền đi một hình ảnh người lính Cảnh sát cơ động trẻ, cười hiền lành dễ thương trong bộ cảnh phục đẫm mồ hôi, khí giới đặt dưới chân, giống như biểu tượng của tinh thần bất bạo động chống lại bạo động. Rằng lắng nghe dân, gần với dân là giải pháp được lựa chọn đầu tiên, chứ không phải đối đầu.
Quay trở lại vấn đề đặt ra là lòng yêu nước. Mọi người dân đều có quyền bộc lộ chính kiến, quan điểm, hay thể hiện tinh thần yêu nước của mình trước một vấn đề trọng sự của đất nước. 
Khi làn sóng phản đối Dự luật Đặc khu dâng cao, Chính phủ và Quốc hội đã lắng nghe nguyện vọng của nhân dân, lùi thời điểm thông qua dự luật để xem xét thêm. Động thái đó thể hiện tinh thần cầu thị, tôn trọng nguyện vọng, ý kiến của dân từ phía Đảng, Nhà nước, Chính phủ. 
Những cuộc tụ tập đông người, biểu tình biểu thị lòng yêu nước diễn ra ở nhiều địa phương diễn ra trong sự ôn hòa, thiện chí thì không có gì để nói. Nhưng riêng Bình Thuận lại là điểm nóng, vì sao?
Trong 2 ngày 16 và 17-6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong (Bình Thuận) đã thực hiện lệnh bắt tạm giam 8 đối tượng gây rối và chống người thi hành công vụ.
Trong số hơn 200 người bị cảnh sát tạm giữ vì hành vi gây rối, phá hoại tài sản Nhà nước, có một số người bị dụ dỗ, lợi dụng bằng cách cho tiền để tham gia gây rối mất trật tự an ninh địa phương. Những kẻ xấu, những kẻ phản động đã nhân cơ hội này lợi dụng lòng yêu nước, sự cả tin của người dân để kích động, xúi giục, dụ dỗ họ, đẩy họ vào những hành động vi phạm pháp luật và phải hứng chịu hình phạt nghiêm khắc của pháp luật. 
Ngày 15-6, người phát ngôn của Công an Bình Thuận, Đại tá Nguyễn Văn Nhiều cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ra quyết định khởi tố vụ án Gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản và chống người thi hành công vụ. 
Qua sàng lọc, 17 đối tượng bị tạm giam để điều tra và củng cố hồ sơ truy tố hình sự. Đáng tiếc nhất là có những người còn trẻ nhưng lại dễ dàng bị kẻ xấu lôi kéo mà vi phạm pháp luật. Họ phải trả giá và để lại nỗi đau, nỗi buồn cho gia đình, dòng họ. 
Có người trẻ đã khai, họ đập phá tài sản Nhà nước chỉ vì đã nhận 300 ngàn đồng từ kẻ xấu. Điều này thực đáng buồn. Qua đó cho thấy nhận thức của một bộ phận người dân về lòng yêu nước còn quá sơ đẳng. Họ đã mắc vào các âm mưu của các thế lực thù địch một cách quá dễ dàng. Chỉ vì chút lợi cỏn con, họ đã sử dụng bạo lực để chống lại chính nhân dân mình, lực lượng bảo vệ mình, phá hoại tài sản Nhà nước được mua bằng chính đồng tiền đóng thuế của nhân dân.
Yêu nước rõ ràng không phải chỉ là một lời nói sáo rỗng. Yêu nước là một nhận thức. Biểu hiện của lòng yêu nước sâu sắc còn phụ thuộc vào hiểu biết, tầm nhìn, bản lĩnh, tri thức, văn hóa của mỗi cá nhân. Những yếu tố đó trong mỗi người sẽ dẫn dắt hành động của họ. Tỉnh táo hay mù quáng cũng phụ thuộc vào điều đó. 
Vì sao trong đại đa số những người xuống đường vì lòng yêu nước giữ thái độ ôn hòa, cầu thị, lại có một thiểu số những người quá khích tạo ra tình trạng bất ổn như vậy? Đấy là bởi nhận thức về lòng yêu nước của một bộ phận người vẫn còn quá nông cạn. Tệ hơn, là một số đối tượng xấu đã núp bóng lòng yêu nước để phá hoại Tổ quốc.
Lẽ dĩ nhiên, sẽ còn nhiều băn khoăn về câu chuyện vì sao điểm nóng lại quá phức tạp như vậy. Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường từ Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây bức xúc trong người dân nhiều năm nay. Rồi tình trạng cá chết, ngư dân gặp khó khăn không có công việc mưu sinh. 
Rồi vấn đề khiếu kiện đất đai kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết. Kể cả việc phát huy dân chủ tại cơ sở chưa tốt khiến tiếng nói của nguời dân nơi đây nhiều năm chưa được chính quyền lắng nghe thấu đáo, xử lý kịp thời, sâu sắc. 
Những âm ỉ đó và sự kiện vừa rồi tạo thêm một cái cớ để kẻ xấu lợi dụng kích động người dân bộc lộ tâm trạng bức xúc của mình. 
Thiết nghĩ, chính quyền địa phương ở Bình Thuận sau câu chuyện này không thể không lãnh nhận những bài học quan trọng để quan tâm, chăm lo nhiều hơn đến đời sống của nhân dân, hỗ trợ kịp thời và tháo gỡ những bức xúc, giúp dân ổn định đời sống lâu dài.
Câu chuyện buồn ở Bình Thuận những ngày vừa qua để lại trong mỗi công dân Việt chúng ta một suy ngẫm đáng giá về lòng yêu nước. Hãy hành động một cách tỉnh táo, để lòng yêu nước thực sự biến thành sức mạnh nhằm thay đổi, phát triển xã hội theo chiều hướng tích cực, chứ không phải tạo ra những rào cản làm rối loạn xã hội, rối loạn lòng người. Càng không thể nhân danh lòng yêu nước một cách mù quáng mà làm tổn thương đồng bào mình, phá hoại tài sản của đất nước mình.
Vũ Quỳnh Trang

Yêu nước thiết thực là làm tốt công việc và chấp hành pháp luật

Để đảm bảo ANTT, giúp mọi người hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các phần tử phản động, Công an các tỉnh miền Tây Nam bộ phối hợp với các cơ quan đoàn thể, tổ chức Công đoàn, thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phong trào thi đua yêu nước gắn với đảm bảo ANTT trong tầng lớp công nhân...
Tình hình ANTT, ATXH tại các KCN-KCX trên địa bàn TP Cần Thơ được giữ vững.
Để đảm bảo ANTT tại các cơ sở sản xuất cho nhà đầu tư nước ngoài theo tinh thần Chỉ thị và Công điện của Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Thành ủy, UBND TP Cần Thơ, Ban quản lý Các KCN-KCX Cần Thơ phối hợp các sở, ban ngành, đến từng doanh nghiệp để tuyên truyền ý thức tuân thủ pháp luật, không tham gia đình công, biểu tình, gây rối trật tự. 
Bà Nguyễn Thị Thu Hồ - Chủ tịch Công đoàn các Khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ, cho biết: “Trước thông tin có thể xảy ra tình hình mất ANTT tại các KCN-KCX, Công đoàn đã cắt cử cán bộ trực 24/24h. Phối hợp cùng các lực lượng đảm bảo ANTT, nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các cơ sở sản xuất, nhà đầu tư nước ngoài và trong nước trên địa bàn. 
Bằng nhiều biện pháp đồng bộ, đến nay tình hình ANTT-ATXH trong và ngoài KCX-KCN, tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn được đảm bảo. Sắp tới, để tuyên truyền có chiều sâu chúng tôi sẽ tổ chức gặp mặt, lắng nghe ý kiến của người lao động. 
Từ đó phối hợp với chủ doanh nghiệp giải quyết những đề đạt, nguyện vọng chính đáng của người lao động. Đặc biệt, tuyên truyền để công nhân không mắc mưu trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch…
Qua công tác tuyên truyền, định hướng từ trước, nên phần lớn người lao động tại các tỉnh, thành khu vực miền Tây Nam bộ nhận thức, hiểu được những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Không bị các phần tử xấu lôi kéo, kích động. 
Chị Nguyễn Thị Thu Phương (32 tuổi, quê Hậu Giang) đang làm công nhân may mặc tại KCN Thốt Nốt (TP Cần Thơ) chia sẻ, vào đầu tháng 6, các tài khoản Facebook và số điện thoại liên tục xuất hiện những tin nhắn, đoạn video clip với các hình ảnh, lời phát biểu xuyên tạc dự thảo luật về đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt; nói xấu lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội. 
“Tuy nhiên, từ nhận thức của bản thân, cũng như nhận được sự tuyên truyền của Công an khu vực và Công đoàn của công ty nên tôi và các công nhân khác không nghe những luận điệu sai trái ấy. Tôi thấy thật đáng buồn, không ít người, nhất là nhiều bạn trẻ chưa nhận thức đúng đắn, vẫn nhẹ dạ, tin theo những lời xuyên tạc dụ dỗ của các phần tử xấu. Có người còn đăng tải, “câu like” bằng nội dung xuyên tạc”.
Qua tìm hiểu của PV Báo CAND, đa phần người lao động trên địa bàn các tỉnh, thành phố tại ĐBSCL hiểu rằng, những kẻ xấu chỉ nhằm gây rối, kích động biểu tình, bạo loạn. 
“Chúng tôi yêu nước bằng cách làm tốt công việc của bản thân, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, góp phần phát triển kinh tế, xã hội” – anh Nguyễn Tấn Lãng, công nhân chế biến thủy sản tại tỉnh Hậu Giang, cho biết.
Tại An Giang có khoảng 39.000 công nhân, chủ yếu là lao động tại địa phương. Tập trung ở 2 KCN: Bình Hòa (huyện Châu Thành) và Bình Long (huyện Châu Phú), với 4 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, với hơn 8.000 lao động. 
Nói về công tác tuyên truyền, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của công nhân trên địa bàn, tránh để bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo tham gia biểu tình, ông Nguyễn Thiện Phú – Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh An Giang cho biết, đơn vị phân công cán bộ xuống từng doanh nghiệp, gặp gỡ chủ doanh nghiệp, tập trung công nhân tuyên truyền giải thích cho đoàn viên, công nhân lao động hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách, luôn tin tưởng vào Đảng và Nhà nước. 
Tại các KCN, cụm công nghiệp, thường xuyên và duy trì phát loa lời kêu gọi của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để người lao động bình tĩnh, yên tâm lao động, bảo đảm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và công việc bản thân.
“Hiện, tình hình ổn định, nhưng phía Liên đoàn vẫn tuyên truyền để người lao động không nghe theo sự xúi giục, lôi kéo của các phần tử xấu, không tham gia bất cứ hoạt động gì gây mất ANTT tại doanh nghiệp và địa phương. Bằng cách phát tờ rơi, kèm theo băng đĩa (lời kêu gọi của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam). Đồng thời, nhắc nhở Ban chấp hành Công đoàn cơ sở thường xuyên quan tâm, gần gũi, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của công nhân. Phối hợp cùng Công an, Quân đội tổ chức diễn tập các phương án ngăn ngừa công nhân lao động đình công, tụ  tập  đông người, có dấu hiệu biểu tình, gây bất ổn ANTT” – ông Phú cho biết.
Trần Lĩnh

HRW nối dài thái độ thù địch và thiếu thiện chí TƯ NGUYÊN

Thù địch và thiếu thiện chí, đó là kết luận duy nhất có thể rút ra từ những hoạt động liên quan Việt Nam mà nhiều năm nay Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) đã tiến hành. Vì thế, việc vừa qua HRW gửi Hội đồng Nhân quyền LHQ cái gọi là “báo cáo” chỉ là sự nối dài thái độ tiêu cực của tổ chức này nhằm vu cáo và gây khó khăn trước khi Việt Nam báo cáo trong kỳ họp kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) vào tháng 1-2019 tại Hội đồng Nhân quyền LHQ.
Nên không ngạc nhiên khi trong cái gọi “báo cáo” của HRW nhan nhản thông tin, số liệu do HRW nhặt nhạnh, khai thác từ nguồn không chính thức, từ các tổ chức chống cộng mà thủ đoạn đưa tin trước sau luôn chỉ là vu khống, vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc. Và trên thực tế, việc làm của HRW trở nên lố bịch khi sự phát triển về mọi mặt của Việt Nam, trong đó có sự phát triển nhân quyền, đã trở thành một tiêu điểm được dư luận trên thế giới thừa nhận và khẳng định.
Đơn cử như mới đây, sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ M. Pompeo kết thúc chuyến thăm Việt Nam trong hai ngày 8 và 9-7-2018, trang mạng của Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam đã đưa lên trang nhất nhiều tin tức quan trọng liên quan chuyến thăm, như cuộc gặp của Bộ trưởng M. Pompeo với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, dự tiệc với cộng đồng doanh nhân tại Hà Nội, và ông “rất vui khi đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm để trải nghiệm một Hà Nội thân thiện và gặp gỡ người dân Việt Nam”. Đặc biệt, trang mạng của Đại sứ quán Mỹ đăng tải video-clip nhan đề “Ngoại trưởng Pompeo chia sẻ một vài suy nghĩ với người dân Việt Nam”. Phụ đề tiếng Việt của video-clip cho biết Bộ trưởng Michael Pompeo đã chia sẻ như sau: “Tôi nghĩ rằng đây là một cơ hội tuyệt vời để gặp người dân và các nhà lãnh đạo Việt Nam. Đây là một nơi đặc biệt mà tôi biết rất rõ về lịch sử và cũng là một đối tác quan trọng của nước Mỹ. Đó là một nơi thịnh vượng, độc lập, một đất nước huy hoàng và tuyệt vời. Cơ hội được đến đây và được Chính phủ Việt Nam tiếp đón trong chuyến thăm này là điều tôi mong đợi từ rất lâu nay. Đó là nơi tràn đầy năng lượng, con người ở đây rất tốt bụng, hào phóng, chu đáo, chăm chỉ và cần cù. Tôi nghĩ là tôi có thể nói mãi về những con người tuyệt vời của đất nước này. Mối quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta là rất quan trọng với nước Mỹ và với khu vực Đông - Nam Á. Cùng nhau, chúng ta có thể làm những điều tuyệt vời. Tôi muốn mọi người biết rằng nước Mỹ coi trọng mối quan hệ với Việt Nam, với con người Việt Nam. Chúng tôi cam kết với khu vực để bảo đảm rằng, Việt Nam sẽ tiếp tục là một quốc gia thịnh vượng mà người Việt Nam xứng đáng được hưởng. Việt Nam là một dân tộc độc lập phi thường. Họ dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực ở khu vực Đông - Nam Á. Họ luôn sẵn sàng đương đầu với những nhiệm vụ khó khăn. Đây là một nơi tuyệt vời để tới du lịch và là nơi cho các doanh nhân Mỹ tới đầu tư. Chúng tôi thực sự hưởng lợi từ mối quan hệ với Việt Nam và tôi hy vọng Việt Nam cũng thu được nhiều lợi ích từ mối quan hệ này. Tôi biết rằng chúng ta sẽ giữ vững những cam kết này. Tổng thống Trump chắc chắn cũng cam kết như vậy”.
Vậy trước khi đưa ra báo cáo, HRW có tham khảo ý kiến trên đây của Bộ trưởng M. Pompeo hay không, và nếu chưa đọc, chẳng lẽ họ nhắm mắt nói bừa?