Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

Không thể có một nền dân chủ "hòa tan" ở Việt Nam


QĐND - Nhân loại đang sống trong những năm cuối thập niên thứ hai, thế kỷ 21, trong thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khác với quá trình toàn cầu hóa trước đây, toàn cầu hóa ngày nay dựa trên cuộc cách mạng khoa học hiện đại, đặc biệt là có vai trò của công nghệ thông tin.

Nếu như trước đây người ta chỉ có thể nhận được thông tin từ hệ thống tuyến tính thì ngày nay, với sự phát triển của internet, mạng xã hội, con người có thể tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Qua các công cụ lưu trữ, tìm kiếm dữ liệu, như: Google, Yahoo, mạng xã hội lớn như facebook, YouTube… con người có thể tiếp cận thông tin hoàn toàn chủ động, có lựa chọn… Điều này làm cho thế giới ngày càng “thu nhỏ” và trở thành “thế giới phẳng” (theo Thomas L.Friedman). Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, nhà nước dân tộc vẫn không mất đi mà còn được khẳng định, duy trì sự tồn tại của mình một cách vững chắc hơn.
Trong thời đại ngày nay, các giá trị dân chủ và quyền con người (QCN) được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc thông qua cơ chế gia nhập, ký kết các công ước của Liên hợp quốc. Thế nhưng một số kẻ kỳ thị với chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vẫn cố tình lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.
Gần đây, nhất là từ khi Quốc hội Việt Nam xem xét, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và thảo luận, thông qua Luật An ninh mạng... trước đó là những vụ án xét xử một số kẻ lợi dụng tự do báo chí, internet… vi phạm pháp luật, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tuyên truyền rằng Việt Nam vi phạm dân chủ và QCN. “Chứng cứ” mà họ đưa ra thường là “pháp luật Việt Nam lạc hậu”, nhiều điều luật của Việt Nam vi phạm chuẩn mực QCN. Chẳng hạn, Điều 258 (Bộ Luật Hình sự 2015 về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”(1). Có kẻ còn nói: “Pháp luật Việt Nam vi phạm chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người”, “lạc hậu” so với pháp luật các nước...
Ảnh minh họa. TTXVN.
Vậy chế độ dân chủ và QCN là gì? Trên thế giới có mô hình “chuẩn” về dân chủ và QCN không? Và vì sao có thể khẳng định không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam?
Chế độ dân chủ là gì?
Chế độ dân chủ là một giá trị xã hội được hình thành từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước. Chế độ dân chủ sở dĩ được xem là một giá trị xã hội vì ở đó nhà nước ra đời với sự thừa nhận của một bộ phận dân cư dưới một hình thức nào đó. Mở đầu của chế độ dân chủ là chế độ nô lệ. Trong chế độ nô lệ chỉ có người dân tự do và giới chủ nô mới có quyền tham gia vào việc định ra bộ máy cầm quyền, còn người nô lệ chỉ như các “công cụ lao động biết nói”.
Trải qua nhiều hình thái kinh tế, xã hội, chế độ dân chủ đã có những bước phát triển nhất định, quyền của người dân được mở rộng dần. Các cuộc cách mạng dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng đối với tất cả mọi người. Nền dân chủ ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa (TBCN) là một bước tiến lớn của lịch sử nhân loại. Hiến pháp của các nhà nước TBCN tuyên bố tôn trọng, bảo đảm các quyền về tinh thần và vật chất của tất cả mọi người, nói cách khác là bảo vệ các QCN. Hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lại trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945 là dấu mốc quan trọng thể hiện chế độ dân chủ và QCN trong xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tuy nhiên, xem xét trong nội bộ mỗi quốc gia, chế độ dân chủ và QCN ở các nước TBCN vẫn hạn hẹp do tình trạng bất bình đẳng về chế độ sở hữu, về sự phân hóa giàu-nghèo và về sự kỳ thị chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo... Thực tế cho thấy, hiện nay, các cuộc bầu cử ở nhiều nước phát triển, số cử tri đi bầu cử thường thấp. Cuộc bầu cử gần đây nhất của Hoa Kỳ (2016) chỉ “ở mức dưới 70%. Số cử tri tham gia bầu vào những năm 1980 còn thấp hơn, dao động từ 48% đến 57%”(2).
Mặt khác, sự phân biệt chủng tộc đang tác động đến nhiều mặt của cuộc sống. Hoa Kỳ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn nhiều quốc gia nhưng vẫn còn không ít người nghèo (theo tiêu chuẩn quốc gia). Điều đáng nói là sự phân hóa giàu-nghèo lại gắn với tình trạng phân biệt chủng tộc. Theo một thống kê (vào năm 2014), “tỷ lệ người nghèo của dân da đen là 26%, so với dân gốc người Tây Ban Nha (Hispanics) là 24%, dân Á châu 12% và dân da trắng là 10%”(3).
Xem xét trên phạm vi thế giới thì chủ nghĩa tư bản (CNTB), bao gồm cả sản phẩm của chế độ đó là chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã đi ngược lại các giá trị dân chủ và QCN. Các quốc gia thuộc địa (của CNTB) là những chế độ áp bức, bóc lột, độc tài hà khắc. Bởi vì đó là sự câu kết giữa các quan cai trị thực dân với quan lại phong kiến. Sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam hơn 80 năm (từ năm 1858 đến 1945) là một ví dụ.
Dân tộc Việt Nam không bao giờ quên được nạn đói khủng khiếp xảy ra vào năm 1945. Chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên. “Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Nghiêm trọng nhất là ở các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Nhiều làng xã chết 50% đến 80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai…”(4). 
Ở Việt Nam, đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Lần đầu tiên chế độ dân chủ với các quyền công dân và QCN không những được tuyên bố mà còn được bảo đảm về mặt pháp luật, cũng như trong cuộc sống. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và bản Hiến pháp 1946 đã ghi nhận điều này.
Trên thế giới không có mô hình “chuẩn” về dân chủ và QCN
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều mô hình về chế độ dân chủ với những tên gọi khác nhau, như: Cộng hòa dân chủ nhân dân; chế độ cộng hòa; chế độ cộng hòa nhân dân. Ngoài một số ít quốc gia vẫn theo chế độ quân chủ, các nhà nước có chế độ nghị viện; cộng hòa đại nghị... đều là những chế độ dân chủ TBCN. Trong những nước dân chủ này lại có nhiều mô hình dân chủ khác nhau; chẳng hạn: Chế độ dân chủ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chế độ dân chủ một đảng cầm quyền…
Tương tự như chế độ dân chủ, QCN ở các quốc gia cũng không giống nhau, cho dù những quy định pháp luật ở đó đều mang những giá trị phổ biến. Trong tính hiện thực của nó, QCN là các quy định của pháp luật (quốc gia) nhằm tôn trọng, bảo vệ những nhu cầu, lợi ích về vật chất và tinh thần của tất cả mọi người không phân biệt già-trẻ, gái-trai, dân tộc, quốc tịch, vị thế chính trị, tài sản và những vị thế khác…
Trong mỗi chế độ xã hội nói chung, chế độ dân chủ nói riêng, đều có những quy định về quyền công dân và QCN khác nhau. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt về truyền thống lịch sử, bản chất chính trị và bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Ví dụ, ở nhiều quốc gia phương Tây, quyền tự do ngôn luận không loại trừ việc xúc phạm niềm tin tôn giáo. Chẳng hạn, vụ xả súng ngày 7-1-2015 tại tòa soạn Tạp chí Charlie Hebdo ở Paris (Pháp) khiến 12 người thiệt mạng. Thủ phạm là những người theo đạo Hồi. Họ phẫn nộ vì tạp chí này đăng tải bức biếm họa xúc phạm thánh A-la. Hoặc ở Hoa Kỳ thì người dân có quyền sở hữu và sử dụng súng. Gần đây, người dân ở quốc gia này còn có cả “quyền” được sử dụng máy in 3D tự sản xuất súng (tại gia đình)(5).
Như vậy có thể nói, trên thế giới hoàn toàn không có mô hình dân chủ, QCN “chuẩn” nào cả. Các chế độ dân chủ đều do các cơ quan lập pháp quốc gia quyết định. Thường thì những đảng chính trị chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực chi phối các tiêu chí, cơ chế, chính sách, pháp luật của chế độ dân chủ và QCN ở đó. Ở Hoa Kỳ thì hai đảng-đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền. Ở Trung Quốc tuy có nhiều đảng chính trị nhưng các đảng đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, việc người ta lấy một mô hình chế độ dân chủ nào đó, chẳng hạn như mô hình dân chủ Hoa Kỳ với chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và thể chế “tam quyền phân lập” làm “chuẩn” để phủ nhận chế độ dân chủ XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền là một cách nhìn hạn hẹp, nếu không nói là vì động cơ chính trị, muốn xóa bỏ chế độ hiện hữu và thành quả cách mạng hơn 70 năm của dân tộc Việt Nam.
Nền dân chủ XHCN của Việt Nam bắt nguồn từ lịch sử, bản chất chính trị và từ những quy định về pháp lý. Thực tiễn cách mạng Việt Nam minh chứng: Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam ra đời sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945-cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chế độ xã hội và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đã phải chống chọi với các thế lực xâm lược hùng hậu trong các cuộc kháng chiến anh dũng bảo vệ Tổ quốc kéo dài hơn 30 năm (1945-1975) với không biết bao nhiêu hy sinh xương máu của đồng bào và chiến sĩ. Đó là thành quả đấu tranh của cả dân tộc, là nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Với thực tiễn nêu trên, khẳng định không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam.
----------------------------------------------
(1)- Điều 258, Luật Hình sự 2015 “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
(2)- “Tại sao tỷ lệ cử tri đi bầu cử tại Mỹ lại thấp?”, BBC News ngày 31-10-2016.
(3) -“Tại sao chưa thể chấm dứt tình trạng nghèo khổ tại Hoa Kỳ?”-VOA ngày 21-9-2016
(4)- "Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu", VnExpress, ngày 12-1-2015.
(5)- Mỹ: “Nhiều bang kiện chính quyền liên bang cho phép sản xuất súng in 3D”, VietnamPlus ngày 31-7-2018.
TS CAO ĐỨC THÁI (Giảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

Đừng ngộ nhận về quyền con người mà quên đi nghĩa vụ công dân


QĐND - Trong thời gian gần đây, nhất là từ một số vụ biểu tình gây rối xảy ra ở một số nơi với cớ phản đối dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (gọi tắt là Luật Đặc khu) và Luật An ninh mạng, trước đó là một số vụ án xét xử một số người lợi dụng tự do ngôn luận báo chí, internet… các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tuyên truyền rằng Việt Nam vi phạm dân chủ nhân quyền (quyền con người-QCN).

Đào tạo nghề ngắn hạn cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh minh họa: TTXVN.
Những chứng cứ mà người ta đưa ra là những đối tượng bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử trong một số vụ án như: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển và Trần Hoàng Phú (Hà Nội, tháng 1-2018), trước đó là Trần Thị Nga (Hà Nam, ngày 25-7-2017); Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng, ngày 30-11-2017); gần đây là đối tượng Will Nguyễn (công dân Mỹ gốc Việt) bị bắt trong vụ biểu tình gây rối ở TP Hồ Chí Minh, ngày 10-6-2018. Lập luận của họ cho rằng: Việc làm của những đối tượng trên là hành động “ôn hòa”, “bất bạo động”. Những người nêu trên chỉ thực hiện các “quyền con người vốn có của họ”, hơn nữa, những quyền này nằm trong Hiến pháp 2013 và trong các công ước về QCN mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập…
Những thông tin xuyên tạc bôi nhọ Việt Nam về QCN nói trên được tán phát trên nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây như BBC, VOA, RFI… và các website, dịch vụ mạng Yahoo, YouTube, nhiều trang mạng xã hội, trong đó có cả một số tài khoản trên mạng Facebook, Zalo.
Vậy QCN là gì? Hiến pháp 2013 quy định về QCN như thế nào? Vì sao các thế lực thù địch lại thường viện dẫn QCN khi nói đến những vụ việc chính trị, xã hội ở Việt Nam gần đây?
1. Quyền con người là gì?
QCN là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc. Ngày nay, QCN được xem như là một thước đo của sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa. Về phương diện lịch sử, chế định QCN ra đời từ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ phong kiến. Ngày nay, khi nói về lịch sử chế định QCN, người ta thường nhắc tới “Luật về các quyền của Anh” năm 1689, “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 và Hiến pháp bổ sung năm 1787 của Mỹ, “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" năm 1789 của Pháp. Sau khi Liên hợp quốc thành lập (1945), đó là văn kiện toàn cầu-bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” được cộng đồng quốc tế thông qua ngày 10-12-1948.
Ở Việt Nam, QCN, quyền công dân là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và khi ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, QCN với tư cách là luật tự nhiên, là một giá trị đạo đức, đó là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Những giá trị này bao gồm: Sự tôn trọng nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng, nhà nước. Với tư cách là luật thực chứng, QCN là những quy định của hiến pháp và pháp luật ở mỗi quốc gia nhằm bảo vệ nhân phẩm, các nhu cầu về vật chất, tinh thần của tất cả mọi người và nghĩa vụ của mỗi người đối với xã hội và nhà nước.
Nhằm ngăn chặn sự lợi dụng tính phổ quát của QCN can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, Hội nghị Nhân quyền thế giới năm 1993 ở Viên (Áo) đã thống nhất quan điểm QCN như sau: QCN vừa có tính phổ biến (phổ quát) hoặc còn gọi là tính toàn cầu, đồng thời, QCN vừa có tính đặc thù, tức là những đặc trưng do truyền thống lịch sử, phong tục tập quán và văn hóa ở các khu vực hoặc ở mỗi quốc gia quy định.
Cũng như mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, tính phổ biến của QCN chỉ được thể hiện thông qua tính đặc thù, tính đơn nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia. Điều này thể hiện tập trung trong các quy định về “hạn chế quyền” trong những bộ luật nhất định. Những hạn chế này nhằm “bảo vệ an ninh quốc gia; trật tự công cộng; sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do của người khác”(1).
2. Hiến pháp 2013 quy định quyền con người như thế nào?
Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều có các quy định về quyền công dân, trong đó có không ít quy định mang nội dung QCN. Hiến pháp 2013 lần đầu tiên đã dành cả một chương-chương hai, quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”. Trong chương này, các QCN, quyền và nghĩa vụ công dân được quy định một cách đầy đủ và tương thích với các công ước quốc tế cơ bản về QCN. Đồng thời Hiến pháp 2013 đã quy định 3 nguyên tắc về QCN: 1. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm QCN của người dân; 2. QCN có thể bị những hạn chế nhất định; 3. Khi xem xét một vụ việc vi phạm pháp luật phải theo nguyên tắc “suy luận vô tội”.
Hiến pháp được hiểu là “khế ước xã hội”, là “hợp đồng” giữa người dân với nhà nước, trong đó người dân trao quyền cho nhà nước, để đổi lại nhà nước cam kết tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền của mỗi người dân, và quyền, lợi ích chung của cả xã hội.
Khi QCN trở thành một thủ đoạn chính trị mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá chế độ xã hội thì việc các cơ quan chức năng sử dụng các biện pháp chuyên chính để can thiệp, bảo vệ an ninh quốc gia, lập lại trật tự công cộng là điều tất nhiên. Trong thời đại internet, kỹ thuật số, đã xuất hiện “thực tế ảo”, “thế giới ảo”. Trong "thế giới ảo" cũng đã có những tội phạm thực. Đó là những kẻ sử dụng internet, mạng xã hội đưa tin thất thiệt, từ xúc phạm nhân phẩm cá nhân, lừa đảo, cờ bạc… đến xúi giục người dân xuống đường biểu tình chống chế độ xã hội, nhà nước. Vì vậy, khái niệm “tội phạm mạng” đã xuất hiện trong hệ thống pháp luật thời đại internet, kỹ thuật số. Điều 8, Luật An ninh mạng quy định về những hành vi nghiêm cấm sau: (a) Hành vi quy định tại Khoản 1, Điều 18 (2) của luật này; (b) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo… người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc,…; (d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân,…; (đ) “… đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục…; (e) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội”... Những ai, những tài khoản nào đăng tải một trong những thông tin trên là “tội phạm mạng”.
3. Vì sao các thế lực thù địch lại thường viện dẫn quyền con người khi nói đến những vụ việc về chính trị, xã hội ở Việt Nam?
Ngày nay, các thế lực thù địch và tay sai của chúng đang tích cực thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa. Thế nên họ thường lợi dụng QCN-một giá trị được cộng đồng quốc tế thừa nhận, Việt Nam tôn trọng và ghi nhận… với suy nghĩ rằng điều này sẽ được người dân hoan nghênh và cộng đồng quốc tế ủng hộ họ. Mặt khác, họ xuyên tạc khái niệm QCN nhằm khuyến khích và trấn an người dân khi lợi dụng internet, mạng xã hội một cách thiếu thận trọng, nhất là với tuổi trẻ. Họ tuyên truyền rằng QCN là quyền không có bất cứ hạn chế nào; mọi hành vi chống chế độ một cách “ôn hòa”, “bất bạo động” là hợp pháp; cơ quan chức năng trấn áp tội phạm là “vi phạm QCN”… Với giọng điệu của các thế lực thù địch như trên dẫn đến một số người dân ngộ nhận về QCN, vi phạm pháp luật, rơi vào vòng lao lý.
Như thông tin đại chúng đã đưa, các cơ quan chức năng ở các tỉnh, thành phố: Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… đã truy tố, xét xử một số người tham gia biểu tình gây rối trật tự công cộng ngày 10-6-2018. Khi đối diện với pháp luật và các cơ quan chức năng… họ đều khai rằng: Chỉ làm theo, nghe theo lời kêu gọi biểu tình phản đối dự án Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng… của một số kẻ khác vì nghĩ rằng đi biểu tình là “yêu nước”, là “bảo vệ QCN”… Đáng tiếc, họ quên rằng: Tất cả các quyền đều đi kèm với nghĩa vụ, trước hết là nghĩa vụ tôn trọng pháp luật.
Việc Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa đưa ra xét xử Will Nguyễn (20-7-2018) là một bằng chứng thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam về QCN. Còn nhớ trước phiên tòa, trên internet, mạng xã hội đã có nhiều thông tin dự báo về mức án dành cho Will Nguyễn, có kẻ nói: “Hà Nội phải trả tự do không có điều kiện cho Will Nguyễn (vì Hoa Kỳ đang gây sức ép)”; có người cho rằng mức án tối thiểu của Will Nguyễn nằm trong khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù giam… Nhưng rút cuộc, tòa đã tuyên phạt Will Nguyễn trục xuất (có hiệu lực ngay khi tòa tuyên án).
Như vậy là tất cả những dự đoán đều sai, Will Nguyễn không được “trả tự do vô điều kiện”, hoặc bị tù “từ 2 đến 7 năm” mà đã nhận được một bản án thấp nhất trong khung hình phạt về hành vi gây rối trật tự công cộng. Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày nay đã có những thay đổi lớn. Hai nhà nước đã trở thành đối tác toàn diện (bao gồm cả an ninh, quốc phòng) trên cơ sở nguyên tắc hai bên tôn trọng thể chế, pháp luật của nhau. Bởi vậy có thể nói, bản án dành cho Will Nguyễn không chịu bất cứ một sức ép nào. Đồng thời bản án đã thể hiện rõ quan điểm QCN và tinh thần nhân đạo, khoan dung của Nhà nước Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, Will Nguyễn được nhận bản án đó còn vì trước tòa, Will Nguyễn đã thật thà thừa nhận tội lỗi của mình và còn bày tỏ vẫn muốn được trở về Việt Nam, đóng góp sức lực cho việc xây dựng đất nước.     
TS CAO ĐỨC THÁI, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) Trung tâm Nghiên cứu quyền con người; Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người; HN, 2002; tr.255.
(2) Điều 18: Phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Cần nghiên cứu kỹ những vấn đề cơ bản trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”


QĐND - Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay đang diễn ra khá phức tạp. Một số bạn đọc băn khoăn về một số vấn đề đặt ra trong công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay cụ thể là gì.

Qua tìm hiểu, chúng tôi xin gửi tới bạn đọc những vấn đề có tính cơ bản trong công tác phòng, chống  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thứ nhất, để bảo đảm cho công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đạt được hiệu quả thì cần nghiên cứu làm rõ những vấn đề có tính lý luận về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như: Thế nào là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; quan hệ giữa “tự diễn biến” với “tự chuyển hóa”; nội dung, hình thức biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tính chất nguy hiểm và tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; quan hệ giữa “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thứ hai, phải nghiên cứu xác định rõ những vấn đề về đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như: Mức độ nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể (đối tượng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”); Vai trò, chức năng của các lực lượng tham gia phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Làm rõ nội dung, hình thức, biện pháp, lực lượng, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, nghiên cứu làm rõ mức độ, tính chất, phạm vi, tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; đối với tổ chức Đảng, tổ chức Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội; đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ở nước ta hiện nay.
Thứ tư, xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của tổ chức Đảng, Nhà nước, các cấp, các đoàn thể chính trị-xã hội, hội đoàn, cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Tất cả những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải được các cơ quan chức năng, các tổ chức Đảng, chính quyền nghiên cứu thấu đáo để phân loại vấn đề, từ đó xác định các nội dung, biện pháp xử lý phù hợp đối với từng vấn đề, tạo tính liên hoàn, lôgic trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì mới đạt được hiệu quả như mong muốn.
TRẦN THÔN    

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

Nhận rõ tình hình mới và các dạng quan điểm sai trái, thù địch

Tình hình mới
1- Tình hình thế giới 
Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đa cực hóa về trật tự chính trị, đa dạng hóa về phát triển văn hóa, tin học hóa trong đời sống xã hội, gia tăng hóa sự gắn kết, phụ thuộc vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau. Bối cảnh đó ẩn chứa nhiều chuyển biến lớn lao phức tạp, khó lường, vừa mang đến cho con người những thời cơ, vận hội và tràn đầy hy vọng, vừa đặt ra trước mắt nhiều nguy cơ, thách thức và những lo lắng, bất an. Tình hình mới trên thế giới có thể nhận rõ qua những chuyển biến nổi bật.
Thứ nhất, sự chuyển dịch quyền lực theo hướng từ Tây sang Đông. Bước vào thế kỷ XXI, do suy yếu tương đối của Mỹ và sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nước, nổi bật là Trung Quốc và Ấn Độ, dẫn tới sự chuyển dịch quyền lực mới trên phạm vi toàn cầu. Đó là sự chuyển dịch trọng tâm quyền lực từ Tây sang Đông và dẫn tới sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự chuyển dịch này đã và đang tác động đến quan hệ quốc tế, tập hợp lực lượng giữa các nước không chỉ trong phạm vi các khu vực mà còn biến động sâu sắc tới toàn cầu. Sự chuyển dịch đó làm cho cục diện thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Trong bối cảnh như vậy, sự cọ sát và cạnh tranh chiến lược, điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, quyết liệt, tác động sâu rộng đến an ninh, chính trị thế giới.
Thứ hai, các vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng. Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều chịu tác động của vấn đề toàn cầu, như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hủy diệt, thảm họa thiên tai, thảm họa môi trường sinh thái, nghèo đói và dịch bệnh, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng. Trong những vấn đề gay cấn và là những thách thức to lớn đó, cạn kiệt tài nguyên, nhất là năng lượng và nguồn nước đang là vấn đề nổi trội, tác động tới an ninh và phát triển của nhiều nước, nhiều khu vực. Nhu cầu về tài nguyên của các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ tăng vọt dẫn tới việc cạnh tranh các nguồn tài nguyên vốn đã gay gắt sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.
Cùng với những vấn đề đe dọa an ninh toàn cầu nêu trên, an ninh biển cũng đang nổi lên trong thời gian tới. An ninh biển không chỉ liên quan đến an toàn các tuyến đường hàng hải mà ngày càng mở rộng ra các khía cạnh khác, như an ninh môi trường biển, các nguồn lợi hải sản. Do tác động của việc gia tăng các tranh chấp biển, đảo và các chuyển biến của an ninh phi truyền thống khác, an ninh biển sẽ trở thành một trong những vấn đề chi phối quan hệ giữa các nước.
Nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-mun đã nhận xét: “chân trời có vẻ tối đi”. Thế giới đang ở trong thời kỳ có nhiều xáo động. Chủ nghĩa dân tộc nổi lên rất mạnh, chủ nghĩa phân hóa cũng đang phát triển và những tư tưởng cũng như hành vi cường quyền, cực đoan đang trỗi dậy. Trong khi các cuộc “Cách mạng màu” đã làm tan hoang một số nước tại Trung Đông, Bắc Phi; thì chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khủng bố quốc tế chưa bao giờ phức tạp như bây giờ. Các tổ chức khủng bố, điển hình là Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng vẫn đang duy trì hoạt động tại I-rắc, Xy-ri và ở một số nước khác, đã không chỉ gây ra những bất ổn và biến động chính trị, quốc phòng, an ninh tại nhiều nước mà còn lôi cuốn nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực vào “chảo lửa” này. Nguy hiểm hơn, các tổ chức khủng bố đang mở rộng địa bàn hoạt động sang châu Âu, châu Á, gây mất an ninh, an toàn xã hội. Những vụ tấn công nhằm vào Pháp, Bỉ, Anh, Nga đã lan sang một số nước Đông Nam Á, như Phi-líp-pin, In-đô-nê-xia cho thấy, tất cả những điều đó không thể giải quyết được trong một sớm, một chiều, mà sẽ kéo dài, vô cùng phức tạp. 
Thứ ba, trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ có chiều hướng gia tăng.
Trào lưu dân túy trong thời gian gần đây đang ngày càng gia tăng, nổi lên mạnh mẽ ở các nước phát triển. Ở châu Âu, lần đầu tiên các đảng dân túy có mặt tại hầu hết các quốc hội, chiếm ít nhất 10% số phiếu ủng hộ tại 16 nghị viện châu Âu, là lực lượng lớn nhất trong quốc hội 6 nước (Hy Lạp, Hung-ga-ri, I-ta-li-a, Ba Lan, Slô-va-ki-a và Thụy Sĩ). Trào lưu dân túy ở châu Âu có đặc điểm là phản đối xu hướng liên kết hội nhập, phê phán các chính sách ủng hộ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chống nhập cư, phản đối việc đặt lợi ích của Liên minh châu Âu (EU) lên trên chủ quyền và lợi ích quốc gia. Ở Mỹ, trào lưu dân túy cánh hữu nổi lên lôi kéo sự tham gia của nhiều thành viên Đảng Cộng hòa và đỉnh điểm là thắng lợi trong bầu cử Tổng thống Đ. Trăm, đánh dấu việc lần đầu tiên một ứng cử viên theo đường lối dân túy nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ với khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết”. Trào lưu dân túy hiện đang gây ra một số tác động khá tiêu cực. Ở trong nước, các trào lưu dân túy cổ vũ cho việc xây dựng một nhà nước mạnh và chuyên chế. Kết quả lại làm tăng thêm các mâu thuẫn nội bộ, đẩy tình trạng bất ổn lên cao, làm cho chính sách đối nội và đối ngoại bất định. Đối với bên ngoài, trào lưu này chống liên kết, hội nhập quốc tế và khu vực, gắn ưu tiên thậm chí ly khai khỏi các cơ chế đa phương, như trường hợp Anh rút khỏi EU (hay còn gọi là Brexit), Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Pa-ri về chống biến đổi khí hậu. Điều đó làm giảm hợp tác, tăng cạnh tranh, xung đột và do đó đưa đến những căng thẳng mới trong quan hệ quốc tế.
Xu hướng bảo hộ hoặc còn gọi là chủ nghĩa bảo hộ gần đây phát triển mạnh tại Mỹ và một số nước Tây Âu. Tại các nước này, những lực lượng ủng hộ tự do hóa kinh tế đang suy yếu và co lại, trong khi trào lưu phản kháng tự do hóa, phản kháng toàn cầu hóa lại trỗi dậy, nhất là sau sự kiện Brexit và bầu cử Tổng thống ở Mỹ. Thực hiện theo xu hướng đó, số lượng biện pháp bảo hộ tăng mạnh, lĩnh vực bảo hộ được mở rộng với nhiều biện pháp phức tạp, tinh vi hơn. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong giai đoạn từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 10-2016, các nước thành viên G20 đã áp dụng 85 biện pháp hạn chế thương mại. Bảo hộ không còn chỉ giới hạn trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa dịch vụ, mà còn bao gồm cả tài chính, bảo hộ đầu tư, sở hữu trí tuệ, dịch vụ tự do lao động.
Việc quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ, đóng cửa thị trường, hạn chế liên kết kinh tế, giảm sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương, cản trở thương mại và đầu tư quốc tế đã và đang tạo ra hệ lụy tiêu cực đến tiến trình tăng trưởng kinh tế thế giới và làm chậm lại quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng trên thế giới. Xu hướng bảo hộ ở một số nền kinh tế lớn, đặc biệt là ở Mỹ sẽ làm tăng mâu thuẫn, bất đồng vốn có về một số vấn đề kinh tế, thương mại, do đó làm gia tăng va chạm lợi ích, không loại trừ việc xuất hiện những hành động “trả đũa” dẫn tới chiến tranh thương mại. Tình hình đó làm cho liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu đứng trước nhiều khó khăn, toàn cầu cầu hóa có xu hướng bị chậm lại.
2- Tình hình trong nước 
Chưa bao giờ tầm vóc và sức mạnh của dân tộc, của đất nước lại rạng rỡ và mạnh mẽ như hôm nay. Điều đó làm cho công tác lý luận nói chung và cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhưng mặt khác, những thách thức đối với cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cũng không hề nhỏ mà lý do chính là còn tồn tại những hạn chế, khiếm khuyết trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong những năm qua kinh tế vĩ mô của nước ta cơ bản ổn định, nhưng chưa vững chắc, nợ công tăng nhanh, nợ xấu tuy giảm dần nhưng vẫn ở mức cao, sản xuất, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. “Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới... “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng in-tơ-nét để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút”(1).
Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, chúng ta gặp không ít khó khăn, trong đó có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, có khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ trì trệ, từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu - những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng một cách hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động; từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; từ sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ; từ sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới chệch hướng. 
Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Nhưng ai cũng biết, mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi. Quá trình hội nhập quốc tế, chủ động hợp tác với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.
Có một vấn đề rất đáng quan tâm nữa là mọi tình hình thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều và trên nhiều phương diện. Việc nghe, nhìn, cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Điều đó có tác động lớn đến công tác đấu tranh tư tưởng.
Các dạng quan điểm sai trái, thù địch
1- Những quan điểm của các thế lực thù địch.
Sau nhiều thập niên thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi phương thức hoạt động. Mục tiêu nhất quán không thay đổi của chúng là chống phá tận gốc về tư tưởng chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội và lực lượng công an, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Khi chúng ta kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga và 170 năm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - tác phẩm kiệt xuất của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, các nhà tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội đã tập trung phê phán, đả kích tới tấp vào chủ nghĩa Mác hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta. Họ cho rằng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chỉ là ý tưởng hão huyền, ngông cuồng và cho đến nay càng thấy lạc lõng vì chủ nghĩa tư bản không chỉ tồn tại mà còn bền vững hơn; rằng giai cấp công nhân và những ông chủ tư sản hiện nay đã hòa hợp, trở thành tiền đề cho nhau cùng phát triển; rằng Cách mạng Tháng Mười Nga là “dích dắc” của lịch sử, là cuộc bạo động phản dân chủ, đã hết tác dụng. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ luận điệu nhằm bác bỏ chủ nghĩa cộng sản, như: du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác - Lê-nin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng lý luận Mác - Lê-nin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy, không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác - Lê-nin vào Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Gần đây họ chuyển sang luận điệu “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả Bộ Chính trị”; đồng thời xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đưa ra các luận điệu rằng, “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển.
Họ phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm; rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử... Họ xuyên tạc, phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cho rằng học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được, sự sụp đổ mô hình của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô là một tất yếu đã được dự báo trước; rằng chủ nghĩa xã hội đặt xã hội lên trên cá nhân chỉ là đề cao một số người đang nắm quyền trong xã hội đó.
Tấn công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng không thể làm trái quy luật bỏ qua chế độ tư bản mà là phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết các vấn đề xã hội phải làm theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Họ rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội. Không ít kẻ đã lớn tiếng rằng chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ từ nghèo nàn, lạc hậu tiến tới chủ nghĩa tư bản, những ước mơ của chủ nghĩa xã hội thì chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản những lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề được đặt ra trong đời sống loài người. 
Các thế lực chống cộng tập trung công kích vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Bằng việc vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một đảng, sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu, chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. Dựa vào một số “cải cách” ở các nước tư bản và nhất là dựa vào các mô hình xã hội - dân chủ Thụy Điển, Phần Lan, họ cho rằng từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị mới.
Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, họ cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, “lại được đào luyện trong một lôgíc chuyên chế bạo ngược”, cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: “... nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như trên, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam...” v.v. và v.v..
Họ phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa. Cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như “con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ tư bản chủ nghĩa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau”.
Nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo, họ cho rằng “Đảng đã hoàn thành nhiệm vụ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và hiện nay phải để lực lượng khác lãnh đạo đất nước thì đất nước mới phát triển được, cứ để Đảng lãnh đạo thì đất nước còn lạc hậu”.
Mục tiêu của các thế lực thù địch là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức, tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn định, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ. Các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ đại hội Đảng, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Xuất hiện nhiều luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm như “Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua”. Hiện nay công tác chống tham nhũng đang được Đảng và Nhà nước ta thực hiện một cách kiên quyết, công khai, minh bạch, được nhân dân hết sức đồng tình và tin tưởng, nhưng các thế lực thù địch lại xuyên tạc, bóp méo, cho đó là cuộc đấu tranh thanh trừ nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích.
2- Những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra.
Một số đối tượng “lá mặt, lá trái” cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên mạng in-tơ-nét có nội dung tán phát những quan điểm phản động, cực đoan chống Đảng, Nhà nước, kích động tụ tập đông người, biểu tình gây áp lực với chính quyền, đòi thả tự do cho số “tù nhân lương tâm”. Họ phản đối việc Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC, phủ nhận sự thành công của Hội nghị, xuyên tạc bài diễn văn của Tổng thống Mỹ hòng gây chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Những biểu hiện cơ hội hữu khuynh ở nước ta hiện nay đã và đang xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Tư tưởng cơ hội hữu khuynh đó không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà còn là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và mắc bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị lẫn vật chất. 
Một số quan điểm khác phủ nhận con đường phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội viện dẫn cơ sở lý luận phương pháp luận mác-xít về quá trình vận động của lịch sử như một dòng chảy lịch sử - tự nhiên. Những người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về sự thối nát, giãy chết của chủ nghĩa tư bản, thì bây giờ họ lại ấu trĩ cho rằng thế giới tư bản chủ nghĩa ngày nay toàn những nước tư bản có nền công nghệ phát triển cao, toàn những “con rồng”, “con hổ”; rằng con đường tư bản đưa dân tộc đến tương lai tươi sáng. Họ ngụy biện rằng không nhất thiết phải theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì đất nước mới phát triển. Từ đó vội vàng đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có thì chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ.
Họ tung ra luận điệu trong Đảng có “phe cải cách” và “phe bảo thủ”, có “nhóm lợi ích” từ lãnh đạo cấp cao và nhóm này chi phối toàn bộ các “nhóm lợi ích” ở cấp dưới. Họ cũng bịa đặt rằng “điều này cho thấy phe bảo thủ đã thành công trong việc đặt nặng sự ổn định chính trị trong nước trước cải cách. Thành phần thủ cựu trong Đảng Cộng sản lo ngại Nhà nước sẽ mất đặc quyền đặc lợi”. Họ tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ của Đảng và Nhà nước, xuất hiện nhiều cuốn nhật ký, hồi ký tài liệu tung ra những chuyện giật gân trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ hòng mong chia rẽ nhân dân với Đảng.
Các đối tượng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục phát triển kinh tế quốc doanh với những lý sự, như “kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể hòa nhập được”. “kinh tế thị trường là kinh tế tư bản chủ nghĩa, do thời cuộc và do cuộc sống bắt buộc, chính quyền Việt Nam phải chọn sống chung với con hổ yêu tinh hiện đại này, thể nào sớm hay muộn cũng bị nó ăn thịt”; thực hiện đường lối mở cửa, phát triển kinh tế thị trường là chế độ cộng sản Việt Nam đã uống liều thuốc đắng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là “sân sau” của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải của đất nước.
Bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn mới của các đối tượng phản động nhằm phá hoại về tư tưởng, làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Tất cả các mũi tấn công trên đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự hình thành “xã hội dân sự” dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây, hình thành tâm lý sùng bái đồng đô-la, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên có quan điểm sai trái, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước.
Tiếp tục phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, gần đây họ tung lên luận điệu “No Ho” hòng phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Bác. Thâm độc hơn, họ tung ra luận điệu hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lê-nin. Họ ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Từ đó họ lại ám chỉ “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa dân tộc”. Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là từ phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.
Họ còn nói chế độ một đảng là không dân chủ, đòi đảng cộng sản đang cầm quyền phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Một số phần tử cho rằng thích ứng với nền kinh tế đa sở hữu thì nền chính trị không thể nhất nguyên được, không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất. Do vậy theo họ, dân chủ phải đi liền với đa nguyên về chính trị. Không ít những lời gièm pha, chỉ trích rằng dân chủ của ta là nửa vời, chưa mở ra đã khép lại... Có người nói cách làm của chúng ta là non gan, yếu bóng vía, không dám mở bung dân chủ hết cỡ, không dám thực hiện dân chủ công khai, không giới hạn.
3- Những quan điểm sai trái nảy sinh từ trình độ nhận thức chính trị kém.
So với các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là một nước còn nghèo, sự phát triển kinh tế còn chưa vững chắc, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế còn chưa cao. Trong lĩnh vực xã hội, còn nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được tiếp tục quan tâm giải quyết. Điều đó đã tác động, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh xã hội, làm ảnh hưởng tới cuộc sống bình yên của nhân dân.
Mặc dù đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, nhưng tâm trạng của một bộ phận nhân dân chưa thật vui, chưa thật phấn khởi, không ít những hiện tượng bất ổn khác làm cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ, như: sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng, miền, khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng ngày càng nới rộng. Lĩnh vực công tác tư tưởng, văn hóa vẫn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, đôi khi còn tỏ ra chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, chưa làm sáng tỏ được những vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra để định hướng tư tưởng và thực tiễn, ngay cả trên nhiều vấn đề rất cơ bản. Lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ có phần giảm sút vì bất bình trước những bất công xã hội. Tình hình đó đã làm khối đại đoàn kết dân tộc tuy đã được củng cố một bước, song chưa bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới, những nguy cơ tiềm ẩn; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tuy đã được chăm lo củng cố, song bắt đầu xuất hiện những hiện tượng không thể xem thường.
Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng, như chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số tác phẩm văn hóa có tư tưởng phủ định lịch sử, nhận thức sai về văn học, nghệ thuật, cổ xúy cho những hành vi sai trái, lệch lạc. Hiện nay có một số đầu sách có nội dung phức tạp, xuyên tạc lịch sử Việt Nam vẫn được nhập khẩu, phát hành. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận.
Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa một số tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Đã vậy, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai trái, hoàn toàn bịa đặt mà không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những thông tin này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới “tự diễn biến”, suy thoái về tư tưởng chính trị. Các thế lực thù địch đều rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Những thế hệ sau năm 1975 đã quên hoặc chưa từng nếm trải những khổ cực trong chiến tranh do đó dễ bị thao túng, lôi kéo. Do ảnh hưởng của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, một số trí thức, sinh viên viết bài, làm thơ nói xấu chế độ. Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm chí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, Đảng còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo kháng chiến, rằng thực hiện tập trung dân chủ hiện nay là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo. Họ cho rằng định hướng xã hội chủ nghĩa là giáo điều, sách vở, xuất phát từ định đề giai cấp chứ không xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Theo họ, phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa thì mới phù hợp với thực tế đất nước, xu thế thời đại. Họ cho rằng quan hệ sản xuất mà chúng ta đang xây dựng chỉ là phương tiện để phát triển sản xuất, vì chúng ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bằng mọi giá, nên lực lượng sản xuất yếu kém, trì trệ.
Một số đối tượng đã xoay chiều, quay quắt, phủ định truyền thống, nêu ra những luận điệu quái gở như “các nhà lãnh đạo Việt Nam cứ mãi ngây thơ tin vào sự đồng lòng xả thân cho một ý thức hệ vu vơ”... 
Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một không khí hòa bình để xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên chống phá chúng ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt. Vì vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta phải làm. Để làm thật tốt, cùng với việc tăng cường tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần chủ động nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội; sớm phát hiện và xử lý kịp thời những vụ, việc phức tạp, nổi cộm mới phát sinh, những vấn đề bức xúc trong xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng. Chủ động theo dõi và nắm bắt kịp thời các dạng quan điểm sai trái và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, từ đó xác định những giải pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả./.
--------------------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng , Hà Nội, 2016, tr. 68
Vũ Văn HiềnGS, TS, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

ĐẤU TRANH LÝ LUẬN TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG HIỆN NAY



                                                   HB
Thời gian qua trên các phương tiện thông tin đại chúng các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền xuyên tạc tình hình Việt Nam, tiêu biểu là về Luật đặc khu ở Việt Nam, điều này đã tác động không nhỏ đến quần chúng nhân dân, đã có một bộ phân nhân dân ở các tỉnh thành phía nam bị lôi kéo đập phá, gây rối mất trật tự an ninh. Điều đó càng khẳng định sự cần thiết phải đấu tranh lý luận trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay.
Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay đang diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp trên nhiều cấp độ, phương diện khác nhau. Các thế lực thù địch đang tập trung tổng lực vào cuộc đấu tranh này nhằm mục tiêu phá bỏ nền tảng tư tưởng của nước ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và cuối cùng là xoá bỏ chế độ XHCN trên đất nước ta.
Phương tiện thông tin đại chúng được hiểu là những phương tiện giúp tiếp cận, truyền bá thông tin tốt nhất đến quảng đại quần chúng - xã hội. Phương tiện thông tin được coi là đại chúng khi nó trở nên quen thuộc, hữu ích về mặt thông tin với đa số quần chúng và được họ sử dụng thường xuyên trong một khoảng thời gian dài.
Có thể nói, ngày nay có đủ các loại thông tin thật - giả, đúng – sai, tốt – xấu, chính – tà, “thượng vàng hạ cám”… đều có thể được truyền tải, lưu trữ, truy cập khai thác trên mạng internet. Chính điều này tạo ra sự hấp dẫn, tiện ích, phong phú, phổ biến… của những thông tin được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, song cũng có thể dẫn đến sự “choáng ngợp”, ngộ nhận, nhiễu loạn, phân tâm, mất phương hướng… của đối tượng tiếp nhận những thông tin trên các phương tiện truyền thông hiện đại.
Thực tiễn diễn ra trên lĩnh vực đấu tranh này, cần tập trung giải quyết trong cuộc ĐTLL trên phương tiện thông tin đại chúng hiện nay:
Một là, cần tập trung làm rõ, phơi bày bản chất phản động, phản khoa học, dối trá và tính chất tinh vi, nguy hại, phức tạp trong các luận điểm chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch; công bố một cách công khai, rộng rãi, thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người dân thấy rõ, từ đó họ không còn nghe, tin theo những luận điệu đó. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức trách nhiệm và sự đồng thuận của mỗi người dân về ĐTLL trên các phương tiện thông tin đại chúng trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
Hai là, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cơ quan nghiên cứu, đội ngũ trí thức, các nhà khoa học và mọi người dân tâm huyết, đặc biệt coi trọng vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí tham gia cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Phối hợp đồng bộ các tổ chức, các lực lượng, các hình thức ĐTLL trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, internet, các trang web, blog, mạng xã hội.... 
Ba là, đa dạng hóa các loại hình, phương thức truyền bá, bảo đảm tính đại chúng, linh hoạt, hấp dẫn, dễ hiểu… của các nội dung thông tin lý luận cơ bản trên các phương tiện thông tin đại chúng; lồng ghép nội dung truyền bá lý luận với các nội dung thông tin đa dạng khác trên các phương tiện thông tin đại chúng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin tri thức khoa học, công nghệ, văn hóa, đời sống… của nhân dân. Coi trọng việc tìm tòi, xây dựng các nội dung, chương trình hoạt động, tạo nhiều “sân chơi” hấp dẫn, phong phú, bổ ích để vận động, lôi cuốn, tập hợp giới trẻ thông qua việc sáng tạo các phương thức mới mẻ….

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH LÝ LUẬN HIỆN NAY



      HB
ĐTLL là một trong những loại hình của đấu tranh giai cấp, là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực hình thái ý thức xã hội với tính chất vô cùng phức tạp, gay go quyết liệt và lâu dài. Cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng vô sản với hệ tư tưởng tư sản là cuộc đấu tranh lâu dài, gay go và quyết liệt nhất trong lịch sử đấu tranh giữa các hệ tư tưởng của nhân loại.
Để tiến hành ĐTLL thành công cần phải có chủ trương lãnh đạo thống nhất, công tác tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, lực lượng nghiệp vụ tinh thông, công tác kiểm tra, đôn đốc thường xuyên, sự quan tâm bảo đảm đầy đủ, sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Trong đó, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ ĐTLL là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của cuộc đấu tranh này. Cần thực hiện tốt những nội dung sau
Thứ nhất, phát huy vai trò cấp ủy các cấp trong giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội đối với nhiệm vụ ĐTLL.
Cấp uỷ đảng các cấp phải xác định cuộc ĐTLL là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cấp ủy các cấp cần giáo dục tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong các tổ chức, lực lượng trong toàn xã hội về nhiệm vụ ĐTLL. Cùng với việc chỉ đạo lồng ghép nội dung giáo dục về mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp, hình thức ĐTLL vào trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng thường xuyên, cấp ủy các cấp cần tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, nâng cao ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Phải cụ thể hóa chủ trương ĐTLL của Đảng thành chủ trương, nội dung, biện pháp giáo dục, triển khai xây dựng kế hoạch cụ thể về ĐTLL ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
Thứ hai, đổi mới tư duy, nâng cao tầm trí tuệ của cấp ủy các cấp.
Quá trình đổi mới tư duy, nâng cao tầm trí tuệ cấp ủy các cấp cần tập trung hướng vào những nội dung: Thường xuyên quán triệt, nắm vững mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, chủ trương, giải pháp và những nguyên tắc công tác lý luận của Đảng. Bám sát thực trạng tư tưởng và tình hình đấu tranh tư tưởng trong xã hội, chống chủ quan, phiến diện, bảo thủ hoặc nóng vội. Phát huy sức mạnh tổng hợp, coi trọng tinh thần linh hoạt, sáng tạo của cơ sở trong tiến hành ĐTLL.
Thứ ba, xây dựng cơ quan chức năng, đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, phát huy vai trò nòng cốt của cán bộ, đảng viên trong ĐTLL.
Cấp ủy các cấp cần xây dựng lộ trình xây dựng hệ thống các cơ quan chuyên trách cũng như quy hoạch, tuyển chọn bố trí sử dụng và bảo đảm chính sách đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác lý luận của Đảng. Cần nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ chuyên môn công tác lý luận hằng năm. Nghiên cứu đổi mới chế độ, chính sách với đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác lý luận của Đảng. Bảo đảm chế độ, chính sách vừa là yêu cầu, vừa là biện pháp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác lý luận có đủ tâm và tầm, gắn bó lâu dài với công việc và không ngừng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Cấp uỷ các cấp cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất, kiểm tra, đôn đốc của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức toàn diện, bồi dưỡng năng lực tham mưu, phương pháp tác phong công tác khoa học; rèn luyện phong cách sâu sát cơ sở; nhạy bén với cái mới, chú trọng tổng kết và kinh nghiệm sáng tạo của cơ sở, tổ chức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xây dựng bầu không khí dân chủ, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ, tổ chức động viên mọi lực lượng và tạo điều kiện thuận lợi về vật chất, tinh thần cho các hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể cụ thể hóa các chủ trương, phương hướng ĐTLL vào điều kiện của cơ sở mình.