Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân


QĐND - Sâu sát cơ sở, tích cực kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nảy sinh trong nhân dân, đó là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng ta; là phương pháp, tác phong công tác không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Biết là vậy nhưng không phải tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ và thực hiện tốt công việc ý nghĩa này.

Một thực tế trong những năm gần đây là tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp, đơn thư vượt cấp gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ. Nhiều vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là một bộ phận cán bộ, đảng viên xa dân, thiếu sâu sát, nắm không chắc tình hình cơ sở, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng, chưa sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nắm không chắc tình hình nên bị động trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ tình trạng: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” và coi đó là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.
Sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Ảnh: TTXVN.
Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ tinh thần, thái độ thẳng thắn và kỳ vọng vào sự nghiêm túc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng nhân dân sẽ thất vọng và giảm sút lòng tin nếu tinh thần, thái độ ấy không chuyển thành hành động cụ thể. Để xứng đáng với sự trông đợi và kỳ vọng của nhân dân, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương đã căn cứ vào những biểu hiện mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra tự soi chiếu lại mình để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần từng bước khắc phục tình trạng trên. Nhân dân cả nước sẽ ghi nhớ mãi những hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cùng lãnh đạo các bộ, ngành không quản gian khó, hiểm nguy lặn lội đến với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; bơi thuyền, sắn quần lội nước đến những vùng bị thiệt hại do thiên tai kiểm tra từng bữa ăn, giấc ngủ, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình đoàn kết vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống. Đặc biệt cuối năm 2017 vừa qua, mặc dù rất bận rộn với hàng loạt sự kiện, công việc liên quan đến Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, nhưng Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ vẫn dành thời gian về xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và TP Hội An, tỉnh Quảng Nam để thị sát tình hình và thăm hỏi, động viên người dân vùng lũ. Từ những điều mắt thấy, tai nghe, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính quyền các địa phương phải nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định đời sống người dân, kiên quyết không để người dân bị đói, bị rét... Những việc làm ấy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng nhân dân, đặc biệt là về tinh thần trách nhiệm, tác phong gần dân, sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh.
Từ sự nêu gương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cũng đã có những chuyển động rõ rệt. Điển hình là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch UBND thành phố vẫn duy trì nền nếp chế độ đi cơ sở, tiếp công dân, trực tiếp nghe người dân trình bày tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của mình; nghe lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đến các nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân báo cáo tình hình giải quyết từng vụ việc. Tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ các sở, ngành phải tăng cường bám nắm cơ sở, làm tốt công tác tiếp công dân, chủ động đối thoại với dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu lý đạt tình những tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đảng bộ TP Hồ Chí Minh xác định: Lấy sự chuyển động của cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giải quyết bức xúc của người dân… là thước đo năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, của cá nhân các đồng chí cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu. Chính những chuyển động trong phong cách lãnh đạo, gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình cơ sở đã giúp lãnh đạo thành phố phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, vấn đề bức xúc tồn tại từ nhiều năm.
Tuy nhiên, đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...”. Trên thực tế không khó để nhận thấy một số tổ chức Đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, đơn vị, kể cả một số cán bộ cao cấp, mắc bệnh "quan liêu", “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở, đánh giá không đúng tình hình nên hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo không kịp thời, kém hiệu quả. Có những cơ quan công quyền, cơ quan hành chính nhà nước, nơi tác phong cửa quyền, quan liêu, xa dân... không còn ở một người mà đã lan ra trở thành "căn bệnh" của cả tập thể. Đến những nơi này liên hệ làm việc, người dân rơi vào tình cảnh "ba không": Không người hướng dẫn; không chỗ ngồi; không nước uống. Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thế nhưng một số cán bộ có chức, có quyền lại coi mình là “quan cách mạng” thiếu tôn trọng quần chúng, cho mình là người “bề trên”, quần chúng nhân dân muốn được “ban ơn” thì phải phiền lụy. Tại Hội nghị tổng kết công tác dân vận năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ rõ về tình trạng: “Không ít cán bộ không sát dân, xa dân, nhũng nhiễu, tiêu cực, mất uy tín với nhân dân”... Dự Hội nghị sơ kết công tác bảo đảm TTATGT tổ chức vào tháng 9-2017, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng thẳng thắn phê bình cấp ủy, chính quyền 15 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước. Một trong những nguyên nhân được Phó thủ tướng chỉ rõ là tình trạng cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, đơn vị chức năng chưa sâu sát, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở; những vấn đề nảy sinh từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời, khi phát hiện ra thì lại thiếu biện pháp chỉ đạo quyết liệt để xử lý... Cũng do nắm không chắc tình hình nên ở nhiều nơi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân không được xem xét giải quyết thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài, gây ra những bức xúc trong nhân dân... Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm sút lòng tin trong nhân dân. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để tuyên truyền kích động hòng chia rẽ Đảng với nhân dân thì tình hình trên càng trở nên nguy hiểm.
Để khắc phục cho được bệnh quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu dân, không sâu sát cơ sở, nắm không chắc tình hình cơ sở, Đảng ta xác định, năm 2018 là “Năm dân vận chính quyền”. Đây cũng là biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra. Có nhiều việc phải làm quyết liệt và đồng bộ để biến quyết tâm chính trị của Đảng thành hiện thực. Nhưng mấu chốt của vấn đề là sửa đổi lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, đảng viên. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại hội nghị công tác dân vận vừa qua: “Trong giai đoạn hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về công tác dân vận, công tác quần chúng và quyền làm chủ của nhân dân cũng không có sức thuyết phục”. Chúng ta có thể ra rất nhiều nghị quyết, ban hành rất nhiều chỉ thị và nói rất hay về việc chống quan liêu, chống căn bệnh “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở... nhưng kết quả sẽ chẳng đi tới đâu nếu không có sự chuyển biến bằng hành động và việc làm cụ thể của từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên.
Điều người dân mong mỏi nhất ở các cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải đổi mới phong cách, nêu cao tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân. Cần phải lấy kết quả phục vụ, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tinh thần trách nhiệm với dân, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức. Đến với dân những lúc buồn vui, khó khăn, hoạn nạn là cần thiết nhưng quan trọng là cán bộ, đảng viên đừng bao giờ vô cảm trước nhân dân, phải biết vui niềm vui của dân, biết đau nỗi đau của dân và biết lo nỗi lo của dân. Gần dân nhưng phải hiểu dân, kịp thời nắm bắt và giải quyết thấu lý, đạt tình những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân và những bức xúc nảy sinh từ cơ sở. Cùng với đó là mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của nhân dân nhằm kịp thời phát hiện những biểu hiện quan liêu, xa dân... để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Gần gũi nhân dân, sâu sát nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là “nói ít làm nhiều” để tạo sự tin tưởng cho nhân dân. Khi mà dân tin Đảng, Đảng tin dân thì sự nghiệp cách mạng ắt thành công.
KIM LÂN
Nguồn: Báo QĐND

Không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước sự chống phá của các thế lực thù địch


QĐND - Mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục đích ấy, chúng áp dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn, trong đó có việc thúc đẩy "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Để đấu tranh làm thất bại mưu đồ đó, vấn đề đặt ra trước hết là chúng ta không được phép chủ quan, lơ là, mất cảnh giác.  
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chỉ tính trong 7 tháng trước khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XII được tổ chức, chúng ta đã phát hiện và đấu tranh ngăn chặn hơn 12.000 loại tài liệu chiến tranh tâm lý, phản động; ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả 16 chiến dịch kích động biểu tình và hàng nghìn tài liệu, tin, bài có nội dung phản động trên 280 trang web, blog, mạng xã hội. Một âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam là thúc đẩy sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà trước hết và chủ yếu là suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị. Bởi họ toan tính và cho rằng chỉ có làm chệch hướng tư tưởng chính trị thì mới làm cho nội bộ Đảng chia rẽ, tổ chức của Đảng rệu rã, bộ máy của Nhà nước lung lay và nguy cơ tự đánh mất vai trò lãnh đạo, tự sụp đổ sớm muộn cũng đến. 
Không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước sự chống phá của các thế lực thù địch
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Ảnh: TTXVN.
Cùng với việc xuyên tạc, phủ nhận tính cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thời gian gần đây họ tập trung kích động, cổ xúy cho nhiều quan điểm sai trái phủ định mục tiêu của Đảng và con đường đi lên xây dựng CNXH của nước ta. Họ cho rằng muốn có dân chủ thực sự cho người dân thì Việt Nam phải thực hiện chế độ “tam quyền phân lập”. Họ cổ xúy cho xã hội dân sự và cho rằng “xã hội dân sự là hiện thân của tự do, dân chủ và những giá trị tốt đẹp trong xã hội”; “Hình thành xã hội dân sự độc lập về chính trị là điều kiện, tiền đề cho việc bảo đảm quyền con người”... Họ phủ nhận những kết quả và xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay với các luận điệu đáng lưu ý như: “Cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”; “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “Tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”...
Điểm qua như vậy để thấy các thế lực thù địch, phản động đang chống phá ta rất quyết liệt với những phương thức, thủ đoạn ngày càng nham hiểm, tinh vi, tiến hành trên mọi mặt trận, trong đó tư tưởng-văn hóa vẫn là “mũi khoan phá” chính. Mục tiêu nhằm tới của họ không gì khác là làm chia rẽ nội bộ mà trước hết là chia rẽ về quan điểm chính trị, từ đó dẫn đến tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng. Tình hình ấy đòi hỏi chúng ta, mà trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên không được phép chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Bởi lẽ nếu chúng ta chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc không có nhận thức đầy đủ, đúng bản chất các vấn đề thì chính chúng ta lại tạo ra cơ hội để các thế lực thù địch, phản động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. 
Bên cạnh những ưu điểm, thẳng thắn, dũng cảm, công tâm nhìn vào sự thật, thời gian qua chúng ta vẫn còn nhiều khuyết điểm, yếu kém mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng để chống phá. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã chỉ rõ tình trạng: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.
Đúng như nhận định, đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương, chỉ tính từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đến nay, nhân dân cả nước đã chứng kiến hàng loạt những cán bộ, đảng viên, trong đó nhiều cán bộ cao cấp ở cả Trung ương và địa phương bị xử lý kỷ luật về Đảng, bị truy tố trước pháp luật. Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến những vụ việc trên là do chủ quan lơ là, không rèn luyện, tu dưỡng thường xuyên, mất cảnh giác trước những chiêu trò móc nối, lôi kéo; trước những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch; trước những cám dỗ về tiền bạc, vật chất... mà một số cán bộ, đảng viên ta đã không giữ vững được bản lĩnh, vi phạm nguyên tắc lãnh đạo, vi phạm kỷ luật của Đảng, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật Nhà nước, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Bên cạnh đó còn là tình trạng cán bộ, đảng viên chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, chấp hành chưa nghiêm kỷ luật phát ngôn và các quy định của pháp luật về quản lý tài liệu mật, thông tin mật... Trong khi các thế lực thù địch, phản động đang tìm mọi cách lợi dụng đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, Nhà nước ta để tiến hành các hoạt động tình báo, gián điệp, móc nối, đánh cắp bí mật Nhà nước nhằm phá hoại ta từ bên trong thì những biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác như đã nói là hết sức nguy hiểm. Chính sự chủ quan, lơ là của một bộ phận cán bộ, đảng viên cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ mà Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ ra.
Có nhiều việc phải làm để khắc phục tình trạng cán bộ, đảng viên chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động như: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong tiến hành thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn, uốn nắn những lệch lạc ngay từ cơ sở; đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh nhưng biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác v.v.. Nhưng quan trọng có tính quyết định nhất vẫn là việc tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng về tình hình nhiệm vụ, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động; thấy rõ tính nguy hiểm, hậu quả khôn lường của tình trạng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Thông qua tuyên truyền, giáo dục phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên ý thức rõ việc không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, là tình cảm, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc và nhân dân. Chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức là phương cách tốt nhất để nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên nhằm khắc phục tình trạng cán bộ, đảng viên chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.
HÀ LINH
Theo Báo QĐND

Ngăn chặn tệ mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên


QĐND - Sau Tết Nguyên đán là mùa lễ hội với nhiều hoạt động văn hóa-xã hội được tổ chức trên khắp đất nước. Một trong những vấn đề đặt ra từ nhiều năm qua khiến các nhà quản lý phải đau đầu, đó là tệ nạn mê tín dị đoan và lễ hội phản cảm. Điều đáng ngại hơn và đã trở thành lực cản không nhỏ với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan và lễ hội phản cảm là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trực tiếp tham gia, hoặc gián tiếp bao che, dung túng cho tệ nạn này.

Mê tín dị đoan-căn bệnh trầm kha
Nhìn lại những năm qua, chúng ta dễ dàng nhận thấy nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo ra những bước phát triển mới, những thành tựu quan trọng của đất nước. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, văn hóa-xã hội có những bước phát triển mạnh mẽ. Thế nhưng dân gian có câu “Phú quý sinh lễ nghĩa”, cùng với những chuyển động tích cực là cơ bản, những tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường vào đời sống văn hóa-xã hội cũng không hề nhỏ, rõ nhất là tệ nạn mê tín dị đoan, lễ hội phản cảm có chiều hướng gia tăng.
Ngăn chặn tệ mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên
Những hoạt động có tính chất mê tín dị đoan sẽ bị ngăn chặn (Ảnh minh họa).
Đặc biệt là sự phục hồi của nhiều hủ tục và những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lạc hậu, sự xuất hiện của những thứ tôn giáo lạ. Các hoạt động mang đậm màu sắc mê tín dị đoan, như: Bói toán, đồng bóng, gọi hồn, cúng ma... đã từng bị đẩy lùi nay lại có chiều hướng phát triển trở lại ngày càng tinh vi và khó kiểm soát. Từ suy nghĩ “trần sao âm vậy” nhiều người đã bị cuốn vào cuộc đua mua sắm vàng mã đắt tiền, xây cất mồ mả to lớn, tốn kém. Không ít người tin rằng có thánh thần, ma quỷ và các lực lượng siêu nhiên có khả năng sắp đặt, điều chỉnh đời sống con người, nên họ không lo rèn luyện phấn đấu, tính toán làm ăn mà chỉ lo mời thầy cầu cúng. Nhiều người bệnh không tới bệnh viện điều trị thuốc thang mà chỉ lo mời thầy mo, thầy cúng. Không ít phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa, lễ hội tốt đẹp của cộng đồng bị lạm dụng, xuyên tạc, đan cài thêm những yếu tố mê tín dị đoan, những trò nhảm nhí, phản cảm, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Nhiều lễ hội, hình thức tín ngưỡng, tôn giáo chân chính bị biến tướng pha đậm màu sắc mê tín dị đoan, không còn ý nghĩa như xưa, trở thành nơi buôn thần, bán thánh. Cũng do mê tín dị đoan mà trong xã hội xuất hiện những tà đạo, những tôn giáo lạ hoạt động trái pháp luật...     
Điều đáng lo ngại là mặc dù xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhưng tệ nạn mê tín dị đoan lại có chiều hướng gia tăng, lan rộng. Khác với trước đây chỉ tập trung ở những vùng nông thôn, miền núi thuộc thành phần có thu nhập thấp, đời sống vật chất, tinh thần khó khăn, nhận thức hạn chế thì nay mê tín dị đoan lại có chiều hướng phát triển mạnh ở đô thị, trong tầng lớp có trình độ nhận thức cao, cuộc sống khá giả. Nguy hiểm hơn là có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên tham gia, bao che, dung túng cho tệ nạn này. Dư luận hẳn chưa quên câu chuyện xảy ra cách đây hơn 3 năm, tại xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ (Hà Nội), có hai cha con đều là đảng viên, cán bộ cấp cơ sở nhưng đã lợi dụng lòng tin của người dân để thực hiện hành vi bói toán, xem tướng ngay tại nhà nhằm trục lợi. Tương tự, mới đây ở Bệnh viện huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một cán bộ chuyên viên kỹ thuật đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bệnh nhân và người dân, tự xưng là "thầy phong thủy có những khả năng kỳ diệu" để thực hiện những hành vi mê tín dị đoan nhằm trục lợi... Ở một bộ nọ lại có cả cán bộ cấp vụ trưởng cũng đi hầu đồng... Cán bộ, đảng viên, công chức tin theo bói toán, tướng số thì dân cũng tin theo và thế là mê tín dị đoan đã trở thành căn bệnh trầm kha trong xã hội.
Mê tín dị đoan ảnh hưởng tiêu cực đối với nhiều lĩnh vực
Tuy chưa phải là nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, nhưng mê tín dị đoan ảnh hưởng tiêu cực đối với nhiều lĩnh vực xã hội, từ tư tưởng, chính trị, đạo đức đến kinh tế, đời sống. Tệ nạn mê tín dị đoan đã gây ra những thiệt hại lớn và hậu quả xấu cả về sức khỏe, thời gian, tiền bạc, tính mạng cho cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội. Chưa có một thống kê cụ thể nào nhưng theo nhận định của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu thì trung bình mỗi mùa lễ hội có đến hàng chục tỷ đồng tiền thật đã bị thiêu đốt theo vàng mã và chi cho các hoạt động buôn thần, bán thánh, mê tín dị đoan. Cũng vì mê tín dị đoan mà không ít gia đình đã lâm vào cảnh ly tán, tan cửa nát nhà, suy kiệt về kinh tế. Bao cái chết thương tâm đã xảy ra mà nguyên nhân là do người dân nhẹ dạ, cả tin vào thầy mo, thầy cúng.
Không chỉ vậy, mê tín dị đoan còn có thể thâm nhập vào tư tưởng của cán bộ, đảng viên, làm cho cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, thay đổi quan điểm, lập trường cách mạng. Không ít cán bộ, đảng viên, công chức chỉ vì mê muội đã từ bỏ việc rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu, vai trò tiên phong gương mẫu để chờ đợi vào số mệnh, sự may-rủi, cầu xin sự ban ơn, che chở của thần linh và các đấng siêu nhiên.
Đặc biệt, khi mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị phản động lợi dụng mê tín dị đoan để chống phá thì nó còn gây ra những rối ren về an ninh trật tự, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội, đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên tham gia vào các hoạt động mê tín dị đoan và các lễ hội phản cảm là biểu hiện cụ thể về suy thoái đạo đức, lối sống, gây bức xúc trong dư luận, làm suy giảm sức chiến đấu và uy tín lãnh đạo của Đảng trong nhân dân, trở thành một lực cản không nhỏ cho cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn này trong xã hội. Đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống là: “Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội”.                   
Trước hết phải ngăn chặn mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên
Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, văn minh vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu cấp thiết của cách mạng. Do vậy trong bất cứ hoàn cảnh nào, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức cũng phải là những người đi đầu trong việc quán triệt, triển khai những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và những giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan.  
Không chỉ đến bây giờ mà ngay từ khi mới giành được độc lập, vấn đề đấu tranh bài trừ những hủ tục lạc hậu, tệ nạn mê tín dị đoan, tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến trong Đảng, trong xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng. Qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước đều có các chủ trương, chính sách, phát luật phù hợp để vừa đấu tranh bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan, lễ hội phản cảm, nhưng vẫn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Để đẩy lùi tiến tới xóa bỏ tệ nạn mê tín dị đoan, lập lại trật tự xã hội, chúng ta phải làm nhiều việc. Nhưng trước hết chúng ta cần thống nhất nhận thức rằng: Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan trong Đảng và trong nhân dân là công việc không thể một sớm một chiều mà cần phải có thời gian, phải làm kiên trì, bền bỉ. 
Mặt khác đây không phải là công việc của riêng cá nhân hay tổ chức nào mà cần phải có sự chung tay, góp sức của toàn Đảng và toàn xã hội. Một công việc hết sức quan trọng trước khi nghĩ tới việc đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ tệ nạn mê tín dị đoan ra khỏi đời sống xã hội, đó là phải loại bỏ tệ nạn này ra khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức. Niềm tin mù quáng, không suy xét là kết quả của nhận thức cảm tính thiếu lý trí, thiếu trí tuệ sáng suốt dẫn đến những hành vi tin vào những điều thần bí, nhảm nhí, không dựa trên những cơ sở khoa học. Do đó, để bài trừ tệ nạn này, cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để toàn dân, trước hết là cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn về mê tín dị đoan, phân biệt rõ những hiện tượng mê tín dị đoan với các tín ngưỡng, tôn giáo chân chính. 
Đi đôi với tăng cường công tác quản lý, giám sát, từng cơ quan, đơn vị, địa phương cần mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của dân để kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện mê tín dị đoan. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan. Vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên là yếu tố rất quan trọng để các chỉ thị, nghị quyết ấy đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả thiết thực. Cán bộ, đảng viên nếu chỉ gương mẫu tránh xa mê tín dị đoan là chưa đủ mà còn phải có trách nhiệm tham gia tuyên truyền cho người thân, cho gia đình, khu phố, làng xóm, thôn bản hiểu bản chất phi khoa học và hậu quả khôn lường của tệ nạn này. Để giúp cán bộ, đảng viên làm tốt công việc ấy thì các cơ quan chức năng phải thường xuyên cung cấp thông tin, tài liệu phân tích rõ tính chất phản khoa học, diễn biến tình hình cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ mê tín di đoan và những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội. 
MINH NGỌC
Theo Báo Quân đội Nhân dân

Không gì có thể chia rẽ quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa quân đội và công an


QĐND - Quân đội và công an là lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn đoàn kết và gắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Sự đoàn kết, phối hợp giữa Công an nhân dân (CAND) và Quân đội nhân dân (QĐND) đã trở thành truyền thống, là yêu cầu khách quan, cội nguồn sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (TTATXH). Thế nhưng mấy năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại tình cảm, mối quan hệ khăng khít đó.

Những chiêu trò xuyên tạc, chia rẽ
Một thủ đoạn gần đây được họ “dựng chuyện” thông qua luận điểm kích động: “Ai làm thoái hóa quân đội Việt Nam?” để chỉ trích việc quân đội tham gia phối hợp với công an bảo vệ an ninh quốc gia, TTATXH là không đúng chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Họ còn xuyên tạc rằng, thông qua Nghị định số 77/2010/NĐ-CP về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH và nhiệm vụ quốc phòng, “quân đội đã chính thức được phép tham gia bảo vệ an ninh, trật tự xã hội… một việc mà trước đây chỉ có bên công an làm”, qua đó tạo thế lực riêng cho mình, “can thiệp quá sâu vào các hoạt động dân sự dưới sự chỉ đạo của Đảng”.
Thậm chí, họ còn trắng trợn bịa đặt, xuyên tạc quân đội tham gia vào các vụ án chống tiêu cực, tham nhũng là “lấn sân”, qua đó hạ thấp uy tín, vai trò lực lượng CAND... Cách đây ít lâu, họ còn kích động, tạo ra mâu thuẫn giữa hai lực lượng thông qua việc so sánh vấn đề phong quân hàm cấp tướng... Họ cũng không ngừng kêu gọi “phi chính trị” quân đội và công an, cho rằng hai lực lượng này phải tách rời sự lãnh đạo của Đảng, không được “trung với Đảng”, “còn Đảng còn mình” mà phải quay về là lực lượng thuần túy phục vụ nhân dân. QĐND và CAND sẽ chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái, lực lượng chính trị nào”. Họ yêu cầu phải bỏ nội dung LLVT tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, được ghi trong Điều 65 Hiến pháp năm 2013...
Không gì có thể chia rẽ quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa quân đội và công an
Lực lượng Công an và Quân đội phối hợp tuần tra, canh gác bảo vệ vùng biển. Nguồn: quochoi.org
Có thể nói, đó là những chiêu trò hết sức thâm độc, phá hoại mối quan hệ khăng khít, gắn bó giữa QĐND và CAND. Mối quan hệ, tình cảm tốt đẹp này không phải sự ngẫu nhiên hay ý muốn chủ quan của ai đó mà bắt nguồn từ chính bản chất, chức năng, nhiệm vụ của LLVT nhân dân.
Từ lời dạy của Bác Hồ...
Sinh thời, Bác Hồ từng nhiều lần căn dặn hai lực lượng quân đội và công an về sự đoàn kết, phối hợp công tác. Ngày 11-3-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng chí Hoàng Mai, lúc đó là Giám đốc Công an khu 12. Bức thư với những lời căn dặn về tư cách người công an cách mệnh đã nhắc đến việc công an phải phối hợp chặt chẽ với quân đội. Bác viết: “Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian…”.
Hơn 10 năm sau, tại buổi lễ thành lập lực lượng CAND vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), ngày 3-3-1959, Bác Hồ đến dự, giao nhiệm vụ và khẳng định: “Thành lập được lực lượng Công an nhân dân vũ trang là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an”. Tại buổi lễ này, Bác còn có phát biểu bất hủ về truyền thống gắn bó giữa hai lực lượng: “Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng... Công an nhân dân vũ trang hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”.
Đến thực tiễn sát cánh cả thời chiến và thời bình
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, QĐND và CAND suốt hơn 70 năm qua luôn kề vai sát cánh, đoàn kết gắn bó vì nhiệm vụ chung, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng.
Ngay từ khi lực lượng CAND mới ra đời (19-8-1945), CAND đã phối hợp chặt chẽ với QĐND chống thù trong, giặc ngoài, chống phản cách mạng, bảo vệ thành công thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Sự phối hợp giữa công an với lực lượng quân sự và dân quân tự vệ phá vụ án phố Ôn Như Hầu (1946), bóc gỡ 40 trụ sở của Quốc dân đảng, đập tan âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền ở Thủ đô Hà Nội những ngày đầu chính quyền non trẻ là một minh chứng cho sự phối hợp tất yếu và hiệu quả ấy. Sau này, qua các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự phối hợp đoàn kết chiến đấu giữa hai lực lượng càng thêm chặt chẽ, nhất là cùng tham gia phá tan âm mưu của địch cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; tiến công truy quét, tiêu diệt các toán thổ phỉ, biệt kích, thám báo trên các vùng Đông Bắc, Tây Bắc Tổ quốc... Trong các chiến dịch lớn, lực lượng an ninh cùng lực lượng quân đội bảo vệ tuyệt đối an toàn các sở chỉ huy, làm thất bại hoàn toàn các hoạt động gián điệp, các chiêu trò chiến tranh tâm lý, chiêu hồi của địch...
Trong giai đoạn hòa bình, xây dựng đất nước, quan hệ đoàn kết, phối hợp công tác giữa hai lực lượng tiếp tục được sự quan tâm lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, được thể chế hóa bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước và nâng lên một tầm cao mới. Từ năm 2003, Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Quốc phòng tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 107/QĐ-TTg, ngày 2-6-2003 về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, TTATXH trong tình hình mới”. Sau đó, hai bộ đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2010/NĐ-CP về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH và nhiệm vụ quốc phòng; Nghị định số 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ, quy định gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân...
Mối quan hệ phối hợp đó được chỉ đạo và thể chế hóa rất rõ trong Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 2008) về "Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về "Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Luật Công an nhân dân, Luật An ninh quốc gia, Luật Quốc phòng, Luật Biên giới quốc gia... Trong đó, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI nhấn mạnh: “Tăng cường quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân với Quân đội nhân dân và các ngành, các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Luật Quốc phòng năm 2005 xác định: “Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, TTATXH có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”. Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định: “Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH và xây dựng Công an nhân dân”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “...phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.
Trên cơ sở đó, hai lực lượng đã chủ động phối hợp ở tất cả các cấp trong trao đổi thông tin, nhất là thông tin về âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tình hình an ninh, trật tự trên các tuyến biên giới; hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, xâm nhập của các tổ chức phản động lưu vong, những vấn đề liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận định, đánh giá để đề xuất và tham mưu cho Đảng, Nhà nước; đồng thời, triển khai các biện pháp đấu tranh nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Có thể dẫn chứng qua việc cách đây ít lâu, có dịp làm việc với Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-người từng tham gia chỉ đạo trực tiếp giải quyết vụ gây rối ở Tây Nguyên (tháng 4-2004) và Thiếu tướng Lưu Trọng Lư, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên-người trực tiếp tham gia chỉ huy giải quyết vụ tụ tập gây rối ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên (tháng 5-2011), chúng tôi được biết, sự phối hợp giữa quân đội và công an trong những sự việc phức tạp này cực kỳ cần thiết, khăng khít và hiệu quả...
Không gì có thể chia rẽ
Ngày nay, khái niệm về an ninh quốc gia có sự phát triển mới. Đó là an ninh toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao; cả an ninh sinh tồn và an ninh phát triển; cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Do đó, bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới phải là nhiệm vụ của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, trong đó QĐND và CAND là lực lượng nòng cốt. Quân đội và công an đều là công cụ bạo lực, là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuy nhiệm vụ cụ thể có đặc trưng khác nhau nhưng đều chung mục tiêu, lý tưởng; không thể có chuyện “lấn sân” nhau trong thực hiện nhiệm vụ mà chỉ có chia sẻ, phối hợp, cùng nhau hoàn thiện nhiệm vụ tốt nhất.
Cùng với đó, trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng thay đổi thủ đoạn, phương thức chống phá cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn phi vũ trang là chủ yếu với xây dựng LLVT, khủng bố từ nước ngoài, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong... Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày nay đặt ra nhiều đòi hỏi cấp thiết phải bảo vệ từ xa, tác chiến không chỉ trên các lĩnh vực trên bộ, trên không, trên biển mà cả trên không gian mạng và đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa. Các thủ đoạn lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tạo ra những “điểm nóng” kinh tế-xã hội để biến thành những sự kiện chính trị nhạy cảm... càng đòi hỏi QĐND và CAND phải kề vai sát cánh hơn nữa. Việc phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, TTATXH cũng như công an giúp đỡ quân đội trong các mặt công tác là đòi hỏi tất yếu khách quan, hoàn toàn phù hợp và không gì có thể tách rời, chia rẽ hai cánh tay, hai người anh em của LLVT nhân dân...
CÔNG MINH - NGUYÊN MINH
Theo Báo QĐND

NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ, SO SÁNH CẦN PHẢI CÓ QUAN ĐIỂM ĐÚNG!



                                                                               Nam Lý
Hiện tại, Việt Nam là một nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đây là một đánh giá hoàn toàn khách quan trên cơ sở thực tiễn và thực tế Việt Nam cũng như vậy.
Tuy nhiên, có một điều lạ là: có một số người do cả biết hoặc không biết hoặc cố tình không biết đã đưa ra những quan điểm, nhận định như: “Việt Nam nghèo, chậm phát triển”, “Việt Nam tụt hậu, còn lâu mới bằng các nước khác”… Ở đây, những ý kiến như thế là có một phần nào đó đúng, ý đúng có cơ sở từ quá khứ. Bởi vì, Việt Nam đi lên xây dựng xã hội mới từ một nước nông nghiệp lạc hậu, dưới ách đô hộ của thực dân và phải trải qua mấy chục năm chiến tranh tàn phá đã cản trở đến sự phát triển của đất nước, dân tộc trong quá khứ và hiện nay.
Nhưng có một vấn đề là những đánh giá như đã nêu ở trên có khách quan hay không. Họ đang đứng trên quan điểm, lập trường nào và đặc biệt, nói thế nhằm mục đích làm gì. Để xây dựng hay bày tỏ quan điểm để góp thêm cho việc chống phá Việt Nam, làm mất lòng tin của quần chúng với cách mạng!
Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam thấy rõ cần phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy mọi nguồn lực trong nước, tranh thủ nguồn lực từ quan hệ quốc tế để xây dựng đất nước, khắc phục nguy cơ tụt hậu, để sánh vai với các nước trong khu vực và quốc tế. Nói thế là xây dựng, là bày tỏ quan điểm đúng. Đằng này, có người đi ra nước ngoài về, tỏ ra lo ngại nhưng lại nhận định, đánh giá, so sánh chủ quan, đưa ra quan điểm thiếu khách quan trong nhìn nhận vấn đề và đặc biệt bản thân người đó như người ngoài cuộc, chẳng đóng góp gì về trí tuệ, vật chất tinh thần cho quê hương, đất nước. Vậy thì, những người nêu ra quan điểm đánh giá đó cần cân nhắc và thận trọng hơn.

PHẢI CHĂNG CÁC NƯỚC TƯ BẢN TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HÓA LÀ CÔNG NHÂN LÀM CHỦ NÊN KHÔNG BỊ BÓC LỘT



HB
Chủ nghĩa tư bản đang rêu rao rằng: Hiện nay trong các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước, đã “trung lưu hoá” vì có cổ phần trong các doanh nghiệp, cho nên giai cấp công nhân không cần phải đấu tranh mà hãy chuyên tâm vào làm việc để có lợi nhuận cao.
Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hóa ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Ngưi dân hễ có tiền tích luỹ là có thể mua cổ phiếu ở các doanh nghiệp, công ty cổ phần nào đó với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Một chủ tư bản không cần một số lượng tư bản lớn như trước kia cũng có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hết sức lớn. Bán cổ phiếu cho ngưòi lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của công ty và lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chẳng qua là một phần giá trị thặng dư do chính công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi. Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”. Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chặt người lao động và bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa, do đó chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa dối mà thôi. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là “hiệu ứng của cải”, làm cho tình hình mua đi bán lại các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ngày càng trở nên nhộn nhịp, làm cho tư bản giả sẽ ngày càng tăng lên so với tư bản thực tế và càng nói lên tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản độc quyền, chứ chẳng phải chủ nghĩa tư bản đã là “chủ nghĩa tư bản nhân dân” như người ta cố tình tô vẽ.
Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì cái sự “trung lưu hoá” ấy là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh, liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C. Mác trong thế kỷ XIX, thế nhưng từ những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không cần phải đấu tranh, không còn bản chất cách mạng, không thể giữ vai trò lãnh đạo, thực hiện sứ mệnh lịch sử nữa thì đó là sai lầm cả về chính trị và khoa học.


PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ CƠ CHẾ ĐỂ DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN LÀM VÀ DÂN KIỂM TRA”



                               HB   
Có thể khẳng định ở Việt Nam, trong mỗi cơ quan, tổ chức đều xác định, xác lập cơ chế cho mọi thành viên đều có thể “biết”, “bàn”, “làm”, “kiểm tra” các hoạt động của tổ chức mình và hoạt động chung của Nhà nước. Cụ thể:
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản khác đã có những quy định để Nhân dân tham gia vào các công việc của Đảng như:
- Đảng viên và các tổ chức đảng phải liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng.
- Nhân dân có thể gia nhập tổ chức Đảng: công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn theo quy định, trong đó có tiêu chuẩn được quần chúng tín nhiệm đều có thể được kết nạp vào Đảng. Các tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn có quyền giới thiệu đoàn viên của mình vào Đảng. Các tổ chức đoàn thể khác nơi người vào Đảng sinh hoạt được có ý kiến nhận xét về họ trước khi chi bộ xét và đề nghị kết nạp. Một trong các tiêu chuẩn của cấp ủy viên là phải được quần chúng tín nhiệm.
- Luật Khiếu nại, tố cáo quy định cho phép Nhân dân có quyền tố cáo những tổ chức Đảng, đảng viên có sai phạm…
Hai là, Nhân dân thực sự có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước thông qua Nhà nước, thể hiện qua các hoạt động cơ bản sau:
-  Điều 6, Hiến pháp nước ta quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Điều đó cho thấy Nhân dân là người trực tiếp được bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đây là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân; cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và địa phương, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.
- Điều 8, Hiến pháp quy định: “Cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”. Theo đó, Nhân dân có quyền giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, thậm chí có thể khiếu nại, tố cáo, hay kiện một hành vi vi phạm nào đó của cán bộ Nhà nước khi vi phạm, như tố cáo cán bộ tham ô, khiếu nại việc bị trù dập, v.v..
Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ của công dân, tăng cường mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước. Cụ thể
- Điều 9 Hiến pháp quy định “…tham gia xây dựng và củng cố chính quyền Nhân dân, cùng Nhân dân chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân…, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước”.
- Điều 11, Hiến pháp quy định: “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội…”. Có nghĩa là, công dân dù không có trong tổ chức nào cũng có thể có ý kiến tác động vào Nhà nước.
Những phân tích trên cho thấy, Nhà nước ta đã tạo ra những cơ sở, điều kiện để Nhân dân nước ta được hoàn toàn làm chủ và kiểm soát mọi quyền lực trong Nhà nước, xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn có ý thức khắc phục những trở ngại làm hạn chế quyền dân chủ của Nhân dân với chủ trương không ngừng mở rộng dân chủ ở nước ta, nâng cao mức độ giải phóng cho người lao động.