Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

                                                                                      Văn Sơn
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái. Và từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, có thể từng người đến cả đội ngũ. Nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hiệu quả.
Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với một số biểu hiện như sau:
Một là, sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước còn nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.
Hai là, đòi đổi mới đường lối quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, cải tổ quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này là đãđi ngược lại đường lối, quan điểm của Đảng, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Ba là, xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước.
Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của lực lượng vũ trang ... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa là họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Để đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, thường xuyên tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung; đường lối quân sự, đường lối quốc phòng, an ninh nói riêng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên giúp họ nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào đường lối quân sự, đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng, tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam hiện nay.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng cho cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy đảng phải tổ chức quán triệt triển khai thực hiện tốt trong thực tế; lựa chọn các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với nội dung và đối tượng trong từng hoàn cảnh, từng nhiệm vụ. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, giáo dục; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác này, bảo đảm sắc bén, thuyết phục cao trong đấu tranh phòng, chống các luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh…
Ba là, từng bước triển khai hiện thực hóa đường lối quốc phòng, an ninh “độc lập, tự chủ” của Đảng trong thực tiễn. Quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, nhất là nhân dân ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những cán bộ, đảng viên, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.
Bốn là, chăm lo xây dựng nhân tố con người cán bộ, đảng viên, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diến biến hòa bình”. Nâng cao sức “đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, nhất là trước sự cám dỗ của đồng tiền, của lối sống sa đọa. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất và năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác Hồ đã dạy.
Năm là, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bảo đảm cho việc tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh nói riêng một cách có cơ sở khoa học, thuyết phục./.


LUẬN ĐIỂM: “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NÊN TỪ BỎ MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ” LÀ SỰ CHỐNG PHÁ CÔNG KHAI - THÔ THIỂN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

Nam Lý
Các trang mạng của nhiều tác giả trên các địa chỉ khác nhau bàn nhiều về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vẫn cách làm theo kiểu “kẻ tung, người hứng”, đưa ra những luận điểm rồi bình luận cho nhau và thế nào, luận điểm nào thì chung cuộc là chống phá một cách điên cuồng.
Những kẻ chống phá đưa ra nhiều thứ, trong đó còn có kiểu đưa ra như “một lời khuyên” đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ mục tiêu chính trị, không nhất thiết phải đi theo con đường xã hội chủ nghĩa!
Họ công khai chống phá, thực chất là họ đang đứng về phía hệ tư tưởng tư sản, bảo vệ cho giai cấp tư sản để chống phá Việt Nam. Phương thức có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm nhưng trong trường hợp này thì công khai là rõ rồi.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện được tổ chức và xây dựng theo những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng một Đảng cách mạng, chân chính. Đảng Cộng sản Việt Nam có mục tiêu chính trị cao cả đó là: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mục tiêu đó là rõ ràng đối với một Đảng chân chính và cách mạng, thể hiện lập trường nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích của quốc gia, dân tộc Việt Nam và cũng là mong muốn, khát vọng của cả dân tộc Việt Nam.
Vậy mà, các thế lực thù địch lại cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ mục tiêu chính trị” là phi lí, không thể chấp nhận được!




CỐ Ý XUYÊN TẠC BẢN CHẤT VẤN ĐỀ!

Nam Lý
 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là láng giềng hữu nghị, quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc có cùng thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, có mối quan hệ hợp tác cùng phát triển trong lịch sử và hiện tại. Điều đó không ai có thể phủ nhận được.
Vậy mà, các thế lực thù địch móc nối với bọn phản động trong nước xuyên tạc, bịa đặt đưa ra các luận điểm nhằm chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa hai nước như: Việt Nam phụ thuộc vào Trung quốc, Việt Nam phải chấp nhận những yêu sách của Trung Quốc, Việt Nam phải nhượng bộ đối với Trung Quốc.v.v…Những luận điểm như thế được chúng tung tràn lan trên mạng, hễ ai truy cập đều có thể nhận thấy.
Những luận điệu này là hoàn toàn phi lý, chẳng có căn cứ gì. Vậy mà, do bản chất chống phá của các thế lực thù địch; chúng cứ nói, cứ rêu rao làm cho một bộ phận người dân (nhất là giới trẻ) lên mạng chẳng biết thực hư thế nào nhưng cũng gây hoang mang, bán tín bán nghi.
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, là một quốc gia độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng. Việt Nam có chế độ chính trị ưu việt, vượt hơn hẳn so với các chế độ chính trị đã lỗi thời, lạc hậu. Đảng Cộng sản Việt Nam có đường lối lãnh đạo độc lập, tự chủ, sáng tạo phù hợp với thực tiễn đất nước; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; có nhân dân lao động làm chủ trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…

Sứ mệnh của dân tộc Việt Nam là thuộc về con người Việt Nam. Vậy mà, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc bản chất vấn đề! Âm mưu của chúng là chia rẽ mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc; chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Mọi người khi lên mạng hết sức tỉnh táo, kẻo bị lừa!

VẠCH TRẦN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG THAM NHŨNG VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                                            Gió biển
          Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, tham nhũng đang nổi lên như một vấn nạn nghiêm trọng đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
          Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã có những chuyển biến tích cực cả trong nhận thức và hành động. Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm rất cao trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, coi đây là nội dung, biện pháp quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, một nội dung quan trọng trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước hiện nay. Cụ thể hóa quyết tâm đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định, pháp lệnh, xác định nhiều chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng. Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta và những chủ trương, biện pháp có tính khả thi cao. Qua công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện, bước đầu đã thu được kết quả rất đáng khích lệ. Nhiều vụ tham nhũng lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật; có tác dụng tích cực trên nhiều mặt, ngăn chặn thất thoát tiền bạc, tài sản của Nhà nước, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đoàn kết nội bộ, củng cố lòng tin của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận xã hội, được dư luận trong nước và quốc tế hoan nghênh…
Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch đã tập trung khai thác, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Thủ đoạn phổ biến của chúng trong thời gian gần đây là lợi dụng việc Đảng ta đưa ra các hình thức kỷ luật đối với một số cán bộ cấp cao như Trịnh Xuân Thanh, Trầm Bê, Nguyễn Văn Bình, Châu Thị Thu Nga, Nguyễn Xuân Anh… chúng cho rằng: hiện nay “đang có cuộc thanh trừng, đấu đá trong nội bộ Đảng”, “cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, rồi “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”, “chống tham nhũng chỉ là hô khẩu hiệu”… hòng hạ thấp uy tín của Đảng ta, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo cao cấp; làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và bộ máy chính quyền các cấp; chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân…

Từ những luận điệu mơ hồ đó, chúng đẩy mạnh tuyên truyền, tung hô: “Phải thực hiện đa nguyên, đa đảng” và “chỉ có từ bỏ chủ nghĩa xã hội đi theo chủ nghĩa tư bản thì Việt Nam mới hết tham nhũng”… Đó thực chất chỉ là những lời bịp bợm, giả dối, ngụy biện. Bởi vì, tham nhũng không phải là hiện tượng đặc trưng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà ngay bản thân ở các nước tư bản hiện nay tình trạng tham nhũng vẫn tràn lan với mức độ ngày càng nguy hại, điển hình như từ vụ hồ sơ Panama cho tới các vụ luận tội Tổng thống Brazil và Hàn Quốc. Năm 2016 là một năm được đánh dấu bởi các vụ bê bối liên quan tới tham nhũng và gia tăng sự phẫn nộ của công chúng về tình trạng này.


         Nói về tham nhũng, V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công”. Tham nhũng là tệ nạn xấu xa phá hoại từ bên trong nền móng công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, là “mảnh đất màu mỡ” để các phần tử thù địch “gieo mầm” chống phá cách mạng nước ta. Đây thực sự là nguy cơ, thách thức đặt ra đối với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chúng ta đấu tranh phòng chống tham nhũng, song cũng cần tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tình hình tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta.

CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VÀ NHỮNG HỆ LỤY CỦA NÓ

                                                                                   Gió biển
Con người phát triển toàn diện trong chế độ xã hội chủ nghĩa là con người biết kết hợp hài hòa các lợi ích giữa cá nhân - tập thể - xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn coi trọng và xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân. Về bản chất, chủ nghĩa cá nhân là lối sống tuyệt đối hóa lợi ích, sự tự do cá nhân, hướng tới thỏa mãn những suy nghĩ, nhu cầu, mục đích, hành vi vụ lợi, hưởng lạc theo chủ nghĩa vị kỷ, nuôi dưỡng tính hám lợi, hiếu danh, ích kỷ.
Chủ nghĩa cá nhân không tự nhiên sinh ra và tồn tại ở mọi xã hội mà nó chỉ nảy sinh và phát triển trong xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, ở đó còn tồn tại tình trạng người bóc lột người, khi giải quyết mối quan hệ về lợi ích thì luôn đặt quyền lợi của cá nhân lên trên hết. Hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân mang lại là vô cùng nguy hại, bởi đó là nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng dẫn tới sự suy thoái biến chất, làm giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong Đảng,
Chủ nghĩa cá nhân được biểu hiện đa dạng, luôn biến hóa muôn hình vạn trạng. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3-2-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Người coi chủ nghĩa cá nhân là “địch nội xâm” và “địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Đó là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của dân với Đảng.
Hiện nay, bên cạnh việc đón nhận những cơ hội thuận lợi, nước ta còn chịu sự chi phối, ảnh hưởng không nhỏ từ mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh nước ta đang thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi cái mới và cũ còn tồn tại đan xen, cái tiến bộ đang dần hình thành và tàn dư của xã hội cũ chưa bị loại bỏ hoàn toàn thì chủ nghĩa cá nhân vẫn có môi trường, điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh với những biểu hiện ngày càng phức tạp và vô cùng tinh vi. Điều này đã được Đảng ta nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”[1]. Trong xã hội, ở một số cơ quan công quyền, tình trạng cục bộ địa phương, bè phái, tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, tư lợi của công, chuyên quyền, độc đoán, hách dịch, lên mặt làm quan cách mạng,... vẫn diễn ra, đang nổi lên như một vấn nạn, gây bức xúc cho toàn xã hội.
Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng này là do “bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”[2]. Điều đó dẫn đến một hệ lụy vô cùng nguy hại: “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”[3].

Một khi chủ nghĩa cá nhân có điều kiện thuận lợi để tồn tại và phát triển sẽ là mối nguy hại vô cùng to lớn cho tổ chức, cho Đảng và dân tộc, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, gây trở ngại lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình ý thức, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phát triển phẩm chất, đạo đức, nhân cách ngang tầm với chức trách, nhiệm vụ được giao, xứng đáng với  niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao mà quần chúng nhân dân.

 




[1] ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.23.
[2] ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.24-25.
[3] ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.23.

TRẦN GIA PHỤNG – KẺ CHUYÊN NÓI NĂNG CÀN DỠ

Tiên phong
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thời đại chúng ta bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử nhân loại. Người là ánh sáng của lý tưởng và niềm tin trong mỗi người dân Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới. Ấy vậy, bằng những lời lẽ của kẻ phản động, Trần Gia Phụng đã cố tình xuyên tạc, bôi nhọ và làm giảm vai trò, uy tín của Bác Hồ đối với nhân dân Việt Nam. Trần Gia Phụng rêu rao rằng, thành công của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chính quyền năm 1945 là do được người Anh, người Mỹ giúp đỡ; bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là sự sao chép Tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ và dân quyền của Pháp. Đây là những luận điệu xuyên tạc vô căn cứ và đầy lố bịch. Thực tế lịch sử cho thấy, để lãnh đạo cách mạng thành công là cả một quá trình Người bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm ra con đường cứu nước, sáng lập ra Đảng cách mạng để cứu dân, cứu nước; là thể hiện tài thao lược, nắm bắt thời cuộc và nhãn quan sắc bén trong chớp thời cơ giành chính quyền của Người. Còn nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh được người Anh hay người Mỹ cung cấp những tin tức có lợi cho cách mạng, cũng là xuất phát từ tấm lòng khâm phục, cảm mến của họ đối với Bác – một con người thông minh, sáng suốt, có tấm lòng bao dung, độ lượng, thu phục nhân tâm; có phong cách sống bình dị, tôn trọng, thương yêu đồng bào, đồng chí. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, không có gì lạ khi Người  mượn những từ ngữ trong Tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ và dân quyền của Pháp để nói lên nguyện vọng chính đáng của người dân Việt Nam; để Người muốn nói với chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ rằng, nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Pháp, Mỹ đều có quyền sống độc lập, tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc. 

PHẠM TRẦN - NGỒI NƠI HẦM TỐI TẢ ÁNH SÁNG

Tiên Phong
Thời gian gần đây, Phạm Trần có nhiều bài viết, đưa ra một số nhận định, đánh giá chủ quan, cố tình xuyên tạc lịch sử của dân tộc. Đặc biệt, Phạm Trần cho rằng Nhà nước cộng sản Việt Nam đã để mất chính nghĩa chủ quyền quốc gia ở Biển Đông ngay khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị quân Trung Cộng đánh chiếm từ tay hải quân Việt Nam cộng hòa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Đây là luận điệu xuyên tạc lịch sử trắng trợn của Phạm Trần. Thực tế lịch sử cho thấy, với quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, trong thời gian mở cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, cùng với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực, các đơn vị của Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng giải phóng các đảo, quần đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã nhiều lần phản đối việc Trung Quốc chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc công nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Trong nhiều hội nghị quốc tế, diễn đàn khu vực, Việt Nam đã đưa vấn đề tranh chấp các đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, chấm dứt hành động xây dựng căn cứ quân sự, cơ sở kinh tế trên quần đảo Hoàng Sa và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế về Biển Đông, về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Trong các cuộc hội thảo đó, Việt Nam đã công bố các tài liệu khoa học, lịch sử khẳng định Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định rõ quan điểm kiên trì, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Để bảo vệ chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc, bên cạnh việc đấu tranh bằng con đường ngoại giao, Đảng, Nhà nước ta đã và đang đầu tư hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển, các lực lượng tham gia tác chiến trên biển nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống.
Tất cả những luận điệu của Phạm Trần là hành động cơ hội về chính trị “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, phục vụ cho mục đích chống phá cách mạng Việt Nam, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước ta với nhân dân. Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội ta vẫn quyết tâm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, quyền chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ đánh mất chính nghĩa chủ quyền quốc gia trên Biển Đông như Phạm Trần vu cáo, xuyên tạc.